Việt - Lào hai nước chúng ta
Trang chủ   |   Đăng nhập  |  Đăng ký  |  
 
Khoa
Login
Tên truy nhập:
Mật khẩu:
Quên mật khẩu ?
Giỏ hàng 0 SP   |  Sơ đồ site
phone1.png 024.3577.2138 (Giờ hành chính)
phone2.png 0916.18.16.54
phone2.png 0904.251.013 
phone1.png 024. 3577.2145
  
Sách
Việt  - Lào hai nước chúng ta
Việt - Lào hai nước chúng ta
Mã sách: ISBN: 9786048035549
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan
Nhà xuất bản: Thông tin và Truyền thông
Loại sách:
  - Sách in
Giá Bán: 135.000 VNĐ
Giá bìa: 135.000 VNĐ
Số lượng :
giohang
Hướng dẫn thanh toán
Số trang: 420
Kích thước: 14.5*20.5cm
Trọng lượng: 300 gram
Hình thức bìa: Bìa mềm
Năm xuất bản: 2019
Số lượng trong kho: 200
Số lần xem: 127

Cuốn sách “Việt - Lào: Hai nước chúng ta”, do tác giả Nguyễn Văn Khoan sưu tầm và biên soạn, tập hợp một số công trình khoa học viết về một số chủ đề đã công bố trên các sách báo, tạp chí, được sắp xếp theo thời gian lịch sử đáp ứng yêu cầu của bạn đọc khao khát tìm hiểu một vấn đề lớn của lịch sử hai nước, đồng thời có thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo về lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

GS. Đinh Xuân Lâm - Nguyên Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã có những nhận định và đánh giá về cuốn sách này: “Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài và anh dũng của nhân dân hai nước Việt - Lào, mối tình đoàn kết chiến đấu đã không ngừng được củng cố và phát triển. Đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ cận đại, trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây - trực tiếp là chủ nghĩa tư bản Pháp - hai dân tộc Việt - Lào càng phải tăng cường đoàn kết, thắt chặt tình hữu nghị để chung sức, chung lòng chống lại kẻ thù chung… Chính trên cơ sở vận dụng tư tưởng đúng đắn đó mà cả ba dân tộc Việt - Lào (và cả Miên) đã cùng nhau đoàn kết kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi và ngày nay đang đi vào xây dựng phát triển. Thế kỷ XXI mở ra cho hai nước Việt - Lào một triển vọng phát triển mới, nhưng cũng đặt ra những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng cần được giải quyết. Trước đây, nhân dân hai nước đã từng cùng nhau chung sức chống thực dân đế quốc thì ngày nay càng phải tăng cường đoàn kết, thắt chặt hữu nghị trên một trình độ cao hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ dựng nước và giữ nước, trước mắt là chống nghèo nàn, lạc hậu, cùng nhau xây dựng nước mạnh, dân giàu, văn minh, sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới.”.

Cuốn sách này sẽ góp phần hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước nói chung, với đất nước Lào nói riêng; nhằm không ngừng củng cố, tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào, đúng như mong muốn và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Việt - Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long

MỤC LỤC

Lời Nhà xuất bản3

1. Một tư liệu quý về tình hữu nghị Việt - Lào6

2. Mối tình sâu đậm12

3. Việt - Lào cần phải đoàn kết25

4. Đường biên giới Việt - Lào ngày nay - sản phẩm
của truyền thống hữu nghị giữa hai dân tộc
và tư tưởng Hồ Chí Minh43

5. Hội Việt Nam thanh niên với việc truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào Lào (1925 - 1935)56

6. Thà Khẹc năm 194375

7. Một kỷ nguyên mới85

8. Cuộc chiến đấu ở Thà Khẹc năm 1946109

9. Một tài liệu quan trọng127

10. Chuyến đi lịch sử134

11. Trên chiến trường Hạ Lào144

12. Vào vùng địch tạm chiếm trên đất Lào168

13. Một gia đình có năm anh em là quân tình nguyện........ 180

14. Vợ chồng Át Nha Xỏn185

15. Con gái hai nước Việt - Lào189

16. Bà mẹ Lào195

17. Hồi ký của cô y tá Việt208

18. Sát cánh bên nhau212

19. Nữ chiến sĩ tình nguyện quân Hạ Lào244

20. Nậm Thà 1962248

21. Cánh đồng Chum 1969275

22. Cánh đồng Chum 1972287

23. Một số vấn đề trong mối quan hệ đoàn kết
chiến đấu Việt - Lào thời kỳ cận đại (1858 - 1930).............. 318

24. Công chúng thắng lợi trong kháng chiến
chống Pháp 1945 – 1954339

25. Một số đặc trưng của mối quan hệ Việt - Lào
trong cách mạng giải phóng dân tộc
thời kỳ 1954 - 1975379

26. Những ngày ấy391

27. Kết thúc một thế kỷ395



MỐI TÌNH SÂU ĐẬM

XIXANA XIXẢN([1])

(LÀO)

Thà Khẹc là tỉnh lỵ của tỉnh Khăm Muồn ở Trung Lào, phía bắc giáp với tỉnh Bôlikhămxay, nằm giáp tỉnh Savannakhẹt, phía đông giáp tỉnh Nghệ Tĩnh của Việt Nam, phía tây giáp tỉnh Nakhon Phanôm của Thái Lan, có sông Mê Kông chảy qua và là con sông biên giới. Tỉnh Khăm Muồn là một tỉnh giàu khoáng sản và rừng cây; Khăm Muồn có truyền thống đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ngay từ thuở xa xưa. Khi thực dân Pháp đến xâm lược Lào lần đầu, nhân dân Khăm Muồn đã đứng dậy chiến đấu, giết tên sĩ quan Pháp Crôquynanh tại Kẹng Khệc ngày 02/6/1893.

Xưa kia, Thà Khẹc thuộc địa phận mường Xikhốttaboong (Xikhôttabun) đã có thời cường thịnh và đất đai tương đối rộng lớn. Vùng Mahaxay, cách Thà Khẹc 52 km về phía đông còn được coi là một trong những cái nôi của loài người. Ở đó, người ta đã phát hiện ra những bộ xương người thời cổ và rìu đá.

Thà Khẹc có nhiều con đường giao thông lớn, như đường 13 từ Thà Khẹc đi Viêng Chăn và từ Thà Khẹc đi Savannakhẹt, đường số 8 từ Thà Khẹc đi Vinh (Việt Nam), đường số 12 từ Thà Khẹc đi Quảng Bình (Việt Nam). Đi đường thủy theo sông Mê Kông cũng thuận tiện, có tàu, thuyền máy chạy từ Thà Khẹc đi Viêng Chăn, từ Thà Khẹc đi Savannakhẹt, vượt sông Mê Kông, để qua Nakhon Phanôm (Thái Lan) cũng thuận trên sông Mê Kông, đoạn chảy qua giữa Thà Khẹc và Nakkon Phanôm, trung bình rộng khoảng 1 km.

Khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930, Thà Khẹc là nơi có chi bộ cộng sản Lào đầu tiên, sau này đã cùng với chi bộ cộng sản Viêng Chăn hoạt động đấu tranh cách mạng. Do hoạt động cách mạng, nhiều người yêu nước đã bị bắt, phong trào tan rã nhiều lần. Cho đến giữa năm 1943, chi bộ đảng cộng sản ở Thà Khẹc và Bònèng Phôntiu mới được khôi phục và củng cố.

Chi bộ đảng không chỉ lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống thực dân Pháp, mà còn đấu tranh chống bọn phát xít Nhật nhảy vào tranh quyền với Pháp ở Đông Dương từ năm 1941. Tháng 02/1945, dưới ánh sáng các nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh ra đời (Lào Minh), bọn địch cũng thường gọi là Việt Minh. Mặt trận này có chương trình hành động: đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân Lào đấu tranh giành độc lập, xây dựng lực lượng quần chúng, lực lượng vũ trang, căn cứ kháng chiến, chờ thời cơ nổi dậy giành chính quyền. Đêm ngày 09/3/1945, Nhật lật đổ bọn cầm quyền Pháp trên toàn Đông Dương, cả ở Thà Khẹc. Bọn Pháp ở Thà Khẹc, kẻ thì bị bắt, người thì chạy vào rừng, không hề chống cự. Sau khi nắm được chính quyền, bọn Nhật quay sang đàn áp phong trào cách mạng, chi bộ đảng và cơ sở quần chúng ở Thà Khẹc vừa mới được khôi phục lại bị vỡ. Nhưng những người yêu nước ở Thà Khẹc vẫn cố tìm cách hoạt động bí mật, tổ chức tuyên truyền, tố cáo hành động của bọn phát xít Nhật, vận động nhân dân chống Nhật, cứu nước. Ngày 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Nhân dân Lào cùng với kiều dân Việt Nam ở Thà Khẹc dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng cộng sản đã nổi dậy giành chính quyền từ tay bọn phát xít Nhật; Thà Khẹc trở thành mương độc lập sau hơn 100 năm chìm đắm trong cảnh thuộc địa và phụ thuộc.

Sau khi giành chính quyền, nhân dân Lào và kiều dân Việt Nam ở Thà Khẹc hợp tác với nhau để phòng thủ Thà Khẹc. Thanh niên Lào được động viên vào bộ đội do đồng chí Xingapô Xikhốt Chunnamaly chỉ huy. Thanh niên Việt kiều cũng được tổ chức thành đơn vị bộ đội, đặt dưới sự chỉ huy của Ủy ban Việt Minh. Hoạt động cách mạng của quần chúng lúc bấy giờ sôi nổi, nhộn nhịp như ngày hội. Mọi người đều sẵn sàng hy sinh xương máu vì Thà Khẹc. Phong trào càng sôi sục hẳn lên khi Hoàng thân Xuphanuvông cùng đơn vị vũ trang đến Thà Khẹc.

Việc Hoàng thân Xuphanuvông đến làm nhiệm vụ tại Thà Khẹc không phải là ngẫu nhiên. Sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công, Hoàng thân Xuphanuvông - lúc bấy giờ đang ở Việt Nam - đã đi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, và được nhà lãnh đạo của Việt Nam chỉ dẫn và giúp đỡ để lập ra một đơn vị liên quân Lào - Việt về hoạt động ở Lào. Hoàng thân Xuphanuvông và đơn vị liên quân Lào - Việt đã hành quân đến Savannakhẹt vào đầu tháng 10/1945, công tác ở đây một thời gian rồi chuyển lên phụ trách Thà Khẹc. Hoàng thân Xuphanuvông lên thủ đô Viêng Chăn ngày 30/10/1945 để gặp Hoàng thân Phếtxalạt, Hoàng thân Xuvănna Phuma và những người thân khác trong hoàng tộc văng nạ. Ngoài ra, Hoàng thân Xuphanuvông đã gặp Chính phủ Lào Ítxala (tự do), được cử giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao và tổng chỉ huy quân đội. Sau đó, Hoàng thân trở lại hoạt động ở Thà Khẹc.

Hoàng thân Xuphanuvông bắt đầu xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành việc mở rộng địa bàn kiểm soát vùng Thà Khẹc.

Trong thời gian này, đám tàn quân Pháp (đã rã ngũ khi bọn phát xít Nhật chiếm Thà Khẹc) lại tập hợp lực lượng bằng cách nắm lấy những người Lào đã từng đi lính cho chúng trước đây, tổ chức lại thành đơn vị, ngoài ra chúng còn bắt lính trong nhân dân vùng nông thôn. Chúng hoạt động ở vùng đường số 8, đường số 12, vùng Na-cai, Khăm Cợt, Lắc Xao. Bọn này có lũ đã đụng độ với lực lượng liên quân Lào - Việt.

Trên mặt trận Thà Khẹc, quân Pháp hoạt động ở phía bắc và phía năm Thà Khẹc, dọc đường Thà Khẹc đi Nhômmalạt, Thà Khẹc đi Savannakhẹt. Chỉ huy sở của chúng đặt ở Nhômmalạt, đơn vị tiền tiêu của chúng đóng ở Mương Cầu và ở cây số 10 đường số 13. Ngoài ra có đơn vị lính Pháp đóng ở Mahaxay.

Lúc bấy giờ, liên quân Lào - Việt có lực lượng khoảng 600 người có trang bị vũ khí tương đối tốt. Đội quân này phải hoạt động đánh địch thường xuyên để bảo vệ thành phố Thà Khẹc, có nhiều trận đánh xuất sắc như trận đánh vào sở chỉ huy quân Pháp ở Nhômmalạt, cách Thà Khẹc 15 km về phía nam, trận này do Hoàng thân Xuphanuvông trực tiếp chỉ huy. Liên quân Lào - Việt đã giành thắng lợi vẻ vang tháng 12/1945. Quân Pháp thua chạy toán loạn.

Dưới sự lãnh đạo của Hoàng thân Xuphanuvông, nhân dân Lào, kiều dân nước ngoài, không chỉ đấu tranh chống quân Pháp, mà còn thực hiện phương thức khôn khéo chống quân Quốc dân Đảng (Tàu) cấu kết với quân Pháp. Quân Quốc dân Đảng vào Thà Khẹc với danh nghĩa đồng minh để tước vũ khí quân Nhật. Nhưng đến tháng 01/1946, trong cuộc thương lượng giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa ở Nam Kinh, Chính phủ Quốc dân Đảng đã thỏa thuận để Pháp đưa quân vào Lào thay thế Sư đoàn 931 Quốc dân Đảng. Trước khi rút đi, quân Quốc dân Đảng ở Thà Khẹc cấu kết chặt chẽ với quân Pháp đàn áp nhân dân Thà Khẹc, tạo điều kiện thuận lợi cho quân Pháp hoạt động. Trong tình hình đó, quân Pháp lợi dụng cơ hội, mở nhiều đợt tấn công vào thành phố Thà Khẹc, có nhiều trận khá ác liệt, như trận Na Mương. Ngoài ra, có một số trận nhỏ ở phía bắc và phía nam Noóngbùa (Noóngbùa nằm ở phía đông Thà Khẹc).

Giữa tháng 02/1946, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp bất thường, đánh giá tình hình và nhận định rằng bọn Pháp có sự chuẩn bị ráo riết để đánh chiếm Thà Khẹc, sau khi Chính phủ Pháp thỏa thuận với Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa để quân Pháp vào thay thế quân Quốc dân Đảng. Chi bộ đảng ra nghị quyết: các lực lượng vũ trang phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ Thà Khẹc, còn dân thường phải tản cư sang Thái Lan. Nghị quyết này được thông báo với Hoàng thân Xuphanuvông và được Hoàng thân tán thành. Dù có nghị quyết như vậy, nhưng nhân dân không chịu rời bỏ nhà cửa, ruộng vườn một cách dễ dàng. Phần đông dân chúng đều ở lại Thà Khẹc để giúp đỡ các lực lượng vũ trang.

Theo lời kể của Kong Khayxi, người Lào đi lính cho Pháp, có tham gia trận đánh chiếm Thà Khẹc, thì sau khi quân Pháp chiếm lại thị xã Savannakhẹt ngày 18/3/1946, bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Lào đã ra lệnh cho tên chỉ huy các lực lượng đánh chiếm Thà Khẹc phải điều quân bao vây và đánh chiếm được Thà Khẹc vào ngày 21/3/1946. Lực lượng Pháp đánh vào Thà Khẹc không chỉ gồm bọn tàn quân Pháp rã ngũ thời Nhật, mà còn có một số không ít sĩ quan Pháp từ Sài Gòn sang với vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh do Anh viện trợ. Như mọi người đã biết, quân Đồng minh vào Lào để tước vũ khí quân Nhật lúc bấy giờ có: quân Quốc dân Đảng Trung Hoa từ vĩ tuyến 16 trở ra; quân Anh từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam. Khi quân Anh vào Lào rồi, họ bèn trao lại chính quyền cho Pháp. Nhờ vậy, Pháp có được căn cứ khá rộng lớn ở nam Lào để đánh chiếm cả nước Lào.

Lực lượng Pháp sử dụng để đánh vào Thà Khẹc có khoảng hai tiểu đoàn, gồm lính Pháp, lính da đen (đông nhất) và một số lính Lào. Ngoài ra, chúng có hai tiểu đội xe bọc thép, hai trung đội pháo, một máy bay trinh sát, bốn máy bay chiến đấu và hai máy bay cánh quạt đậu ở sân bay Xênô (tỉnh Savannakhẹt). Nhờ các phương tiện nói trên, phía Pháp biết rõ các vị trí đóng quân của phía cách mạng.

Ngày 21/3/1946, khoảng 6 giờ sáng, máy bay cánh quạt thả truyền đơn xuống thành phố Thà Khẹc kêu gọi quân cứu quốc hạ vũ khí đầu hàng quân Pháp. Sau đó không đầy nửa tiếng, máy bay chiến đấu, đại bác, súng cối, súng máy của Pháp bắt đầu mở đợt tấn công vào thành phố. Hai máy bay xpítphai ném bốn quả bom xuống chợ đang đông người mua bán, làm cho hàng chục người chết và bị thương, phần đông là phụ nữ. Tiếng súng nổ vang rền khắp nơi trên các mặt trận xung quanh thành phố.

Chính trong lúc này, dân Thà Khẹc bươn bả chạy ào ra bờ sông, có đám người kịp lên thuyền chèo đi, có đám người bơi qua sông. Cảnh tượng người trên sông lúc bấy giờ chẳng khác gì cầm một nắm kiến ném xuống mặt nước. Khoảng một giờ sau, hai máy bay xpítphai bay đến ném bom trúng một tàu chở hàng làm tàu bốc cháy, trôi theo dòng; máy bay bắn xả vào các thuyền, vào đám người chạy loạn cố bơi vượt qua sông sang phía Thái Lan. Đạn pháo không tránh ai bất kể là phụ nữ hay trẻ em, nhiều người trúng đạn chết trôi theo sông; cũng có người thoát chết, đến được bờ phía Thái Lan. Báo chí Thái Lan đã mô tả hành động tàn bạo khủng khiếp này (của quân Pháp) gây lòng căm phẫn không sao tả nổi.

Đến 10 giờ rưỡi ngày hôm đó, các tuyến phòng thủ của phía cách mạng vẫn được giữ vững. Hoàng thân Xuphanuvông là người chỉ huy các tuyến phòng thủ đã chiến đấu chống địch rất kiên cường. Các cánh quân Pháp, mặc dù bị thiệt hại nặng, vẫn tiếp tục tiến lên. Mỗi bước tiến của chúng đều được sự yểm trợ của đại bác, xe bọc thép và máy bay xpítphai. Bốn máy bay chiến đấu đã ném tám quả bom và bắn súng máy xuống quân cách mạng ở tuyến phòng thủ phía nam thành phố. Tuyến này phải rút lui. Sau đó, tuyến phòng thủ phía đông cũng vỡ và rút đi, chỉ còn tuyến phòng thủ phía bắc. Địch đã tiến vào ven thành phố. Lúc này, tình hình phía cách mạng rất căng thẳng, bối rối. Mười hai giờ trưa, ban tham mưu chiến dịch khẩn thiết yêu cầu Hoàng thân Xuphanuvông tản cư qua sông, nhưng Hoàng thân không chịu đi ngay vì còn chờ nghe báo cáo tình hình từ mặt trận. Sau khi thấy không còn khả năng giữ Thà Khẹc được nữa, vì quân địch đã bắt đầu đánh vào trong thành phố, Hoàng thân mới xuống thuyền máy. Hoàng thân vượt sông đúng vào lúc địch tập trung mọi lực lượng để chiếm Thà Khẹc. Chúng nhiều lần cố phá cho được tuyến phòng thủ phía bắc, bằng cách bắn nhiều loạt đại bác, dùng máy bay ném bom và bắn súng máy xối xả xuống tuyến này. Cuối cùng, các tuyến phòng thủ của phía cách mạng đều vỡ hết. Quân cách mạng có nhóm tiếp tục chiến đấu trên từng đường phố, từng ngôi nhà, có nhóm bơi được qua sông. Khi thuyền máy chở Hoàng thân Xuphanuvông ra đến giữa sông thì một máy bay chúc xuống bắn vào thuyền. Hoàng thân bị trúng đạn súng máy từ máy bay, ngã xuống ngất đi. Đội bảo vệ của Hoàng thân, một số bị thương, một số chết. Lúc đó chiếc thuyền bị trúng đạn cũng chết máy giữa dòng. Đồng chí Xingapô Xikhốt Chunnamaly lúc bấy giờ đã qua được bờ bên Thái Lan kể lại rằng, một số bộ đội cách mạng bơi ra thuyền máy của Hoàng thân Xuphanuvông, đưa được thuyền vào bờ, Hoàng thân được cáng đi bệnh viện Nakhon Phanôm, có bác sĩ Pađắp (cũng từ Thà Khẹc sang) đi theo chăm sóc, phối hợp với các thầy thuốc Thái Lan. Vết thương khá nặng. Trước khi viết bài này, người viết có hỏi đồng chí Xuphanuvông: Khi bị đạn, Hoàng thân cảm thấy thế nào?. Hoàng thân trả lời: Cảm thấy choáng rồi ngã xuống mạn thuyền. Khi vừa tỉnh lại, thấy máu chảy phía ngực bên trái. Lúc đó chưa thấy đau mấy, tinh thần vẫn bình tĩnh và nghĩ rằng nếu có chết cũng không ân hận gì vì được hy sinh cho đất nước.

Sau khi Hoàng thân đã vượt sông, quân cách mạng và quân Pháp vẫn tiếp tục đánh nhau ở trung tâm thành phố; quân cách mạng chiến đấu quyết liệt nhằm mở đường đi qua chợ Thà Khẹc, nơi xác người chết từ buổi sáng còn nằm ngổn ngang. Có nhiều tổ chiến sĩ cách mạng đánh đột phá vào hàng ngũ địch rồi rút vào rừng. Quân Pháp khi tiến vào bờ sông đã bắn bừa vào tất cả những ai còn nghẽn lại trên bến sông phía Lào. Xác những chiến sĩ cách mạng và nhân dân bị chúng kéo vứt xuống sông. Trong thời gian này, các đơn vị khác của quân Pháp tiến hành càn quét, bắn tất cả những ai còn lẩn trốn trong các nhà và hầm trú ẩn. Khoảng hơn 16 giờ, trận đánh dần dần lắng xuống, nhưng tiếng súng máy, súng trường, lựu đạn vẫn vang lên từng loạt suốt đêm hôm đó.

Phía cách mạng có khoảng 3.000 người chết, trong đó có khoảng 300 người chết trong thành phố, còn phần lớn là bị máy bay bắn chết trên sông.

Cuộc chiến đấu ở Thà Khẹc kết thúc ngày 21/3/1946, nhưng cuộc kháng chiến chống bọn thực dân Pháp vẫn tiếp diễn.

Sau khi chữa lành vết thương, Hoàng thân Xuphanuvông tổ chức lại lực lượng vũ trang và tiếp tục đấu tranh vì độc lập của đất nước. Hoàng thân đã tích cực thu góp vốn để xây dựng lực lượng và được nhân dân Thái Lan cùng nhân dân Miến Điện vùng bang San giúp đỡ. Trong quá trình hoạt động, Hoàng thân có liên hệ chặt chẽ với người đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Thái Lan. Nhiều đơn vị bộ đội Ítxala được đưa về hoạt động trong nước.

Ngày 25/10/1949, Khămmạo, Vilay, Thủ tướng Chính phủ lâm thời Lào Ítxala lưu vong tại Băng Cốc, tuyên bố giải thể Chính phủ lâm thời Ítxala, Khămmạo và Chính phủ trở về đầu hàng Pháp. Nhưng Hoàng thân Xuphanuvông và Hoàng thân Phếtxalạt tuyên bố tiếp tục chống Pháp. Ngày 29/10/1949, tại Băng Cốc, Hoàng thân Xuphanuvông tuyên bố với các phóng viên, thông tấn, báo chí: Chúng tôi khẳng định một lần nữa lòng tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân chúng tôi trong cuộc kháng chiến. Chúng tôi tin chắc vào thắng lợi và chúng tôi không hề đơn độc trên con đường chính nghĩa của mình. Các bạn Inđônêxia, Việt Nam và Campuchia cũng đang đi con đường này và chúng tôi được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng tự do, nhất là của các nước bạn vĩ đại, đó luôn luôn là sự động viên to lớn đối với chúng tôi.

Hoạt động trên đất nước Thái Lan để chỉ đạo cuộc kháng chiến trong nước là điều không thuận lợi. Chính phủ Thái Lan lúc bấy giờ do Thống chế Phibun Xôốngkhăm làm Thủ tướng thực hiện chính sách không ủng hộ phong trào cứu nước của Lào. Trong tình thế khó khăn này, Hoàng thân Xuphanuvông nhận được lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vùng tự do của Việt Nam để cùng nhau bàn bạc việc cứu nước, Hoàng thân đã nhận lời.

Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Tử Quý, người chỉ huy trung đội bảo vệ đưa Hoàng thân đi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì Hoàng thân đã từ bờ phía Thái Lan vượt sông bằng thuyền gỗ cỡ nhỏ sang bờ phía Lào trong đêm 18/11/1949 vào vùng Bưng Quang, thuộc tỉnh Bôlikhămxay hiện nay. Bí danh của Hoàng thân Xuphanuvông khi đi đường là ông A. Nguyễn Tử Quý là người đã từng chiến đấu dưới sự chỉ huy của Hoàng thân từ năm 1945 đến tháng 3/1946, đồng chí Quý đã ghi vào cuốn hồi ký của mình: Tối nay được gặp Hoàng thân, tôi nhớ lại thời kỳ cách mạng mùa đông năm 1945. Chúng tôi ở trong hàng ngũ liên quân Lào - Việt chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng ở Thà Khẹc, dưới sự chỉ huy của Hoàng thân, nay lại là người bảo vệ Hoàng thân, đưa Hoàng thân đến vùng tự do của Việt Nam để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, trọng trách này, vinh dự này không dễ gì có được…. Nguyễn Tử Quý gọi lần đi đường đó là cuộc hành trình lịch sử. Nguyễn Tử Quý có kể lại cuộc hành trình này trong nhiều đoạn hồi ký. Có đoạn viết: …Hoàng thân Xuphanuvông leo núi, chống một cây gậy cứng, càng lên cao, Hoàng thân càng chống gậy nhiều. Hoàng thân đi ủng, đôi ủng hơi cũ, càng đi nó càng cứa vào chân. Dù đau buốt, Hoàng thân cũng không nói gì, cố gắng đi liên tục. Trên đường đi, nhiều lần Hoàng thân suýt ngã. Tôi đi sau Hoàng thân, Hoàng thân ngoảnh lại nói đùa: Ở đây giá có bậc thang thì tốt quá. Lúc nghỉ, nếu không nói chuyện gì, Hoàng thân nghe đài, nghe xong lại mở ba lô ra, sắp xếp lại các thứ đồ đạc trong đó. Trong ba lô, ngoài mấy bộ quần áo thường dùng, còn toàn là tài liệu. Tôi đề nghị Hoàng thân đưa bớt các thứ trong ba lô cho anh em mang hộ cho nhẹ bớt. Hoàng thân nhìn chúng tôi bằng ánh mắt thương yêu và nói: Tôi mang từng này là vừa sức rồi.

Hoàng thân đi qua vùng Khăm Cợt, vùng Xiêng Khoảng rồi vượt Trường Sơn sang Việt Nam. Đơn vị bảo vệ của Nguyễn Tử Quý đưa Hoàng thân đến nhà tiếp khách của tỉnh Nghệ An, vài ba ngày sau, Hoàng thân đã gặp đồng chí Nuhắc Phumxavẳn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đông Lào. Người viết bài này cũng vinh dự được tham gia đón tiếp Hoàng thân Xuphanuvông.

Sau một thời gian nghỉ ngơi ở Nghệ An. Hoàng thân
lại lên đường đi đến vùng tự do Việt Bắc và gặp Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Không lâu sau đó có tin triệu tập Đại hội toàn quốc mặt trận Lào kháng chiến.

Đại hội khai mạc ngày 13/8/1950, đã thành lập Chính phủ kháng chiến Lào do Hoàng thân Xuphanuvông làm thủ tướng và thành lập Neo Lào Ítxala (Mặt trận Lào tự do) do Hoàng thân làm chủ tịch. Cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân Lào chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn phát triển lực lượng, mở rộng căn cứ địa. Thất bại ở trận Thà Khẹc là một bước lùi, nhưng là bước lùi để chuẩn bị tiến nhiều bước.

Trong một lần gặp Hoàng thân Xuphanuvông, người viết bài này đã hỏi: Vết sẹo do máy bay Xpítphai của địch bắn ngày 21/3/1946 đã ở với đồng chí suốt 43 năm qua. Đồng chí cảm nghĩ gì về vết sẹo đó?. Hoàng thân Xuphanuvông đáp: Trước hết, vết sẹo đó làm cho tôi tự hào vì đã góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc cứu nước. Thứ hai, nó luôn luôn nhắc nhở tôi: phải đi theo cách mạng đến cùng.

Trích Ông Hoàng đỏ kiên cường,

NXB. Sự thật, Hà Nội, 1992


([1]) Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Lào.

Họ và tên (*)
Email (*)
Nội dung (*)