Chân dung nhà văn hoá Ngô Tất Tố
Trang chủ   |   Đăng nhập  |  Đăng ký  |  
 
Khoa
Login
Tên truy nhập:
Mật khẩu:
Quên mật khẩu ?
Giỏ hàng 0 SP   |  Sơ đồ site
phone1.png 024.3577.2138 (Giờ hành chính)
phone2.png 0916.18.16.54
phone2.png 0904.251.013 
phone1.png 024. 3577.2145
  
Tin tức
Chân dung nhà văn hoá Ngô Tất Tố

Cây bút khai phá và thành thạo sử dụng các thể loại văn chương mới giữa cuộc vượt chuyển lịch sử của văn hoá dân tộc

Khảo cứu những tư liệu do chính tác giả để lại, cho thấy Ngô Tất Tố sinh năm Giáp Ngọ (1894). Kết quả này cũng phù hợp với năm sinh của tác giả ghi trong Niên giám Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật và sách Nhà văn Việt Nam hiện đại.

Chào đời năm Ngọ (Giáp Ngọ 1894), Ngô Tất Tố “về trời” cũng vào năm Ngọ (Giáp Ngọ 1954).

Sinh ra và làm người trên cõi dương thế, Ngô Tất Tố không lấy chính trường và chiến trường làm nơi lập nghiệp mà quyết chí lập ngôn dựng nghiệp bằng nghề cầm bút.

Ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ, các phương tiện biểu hiện bằng ngôn ngữ là tố chất hàng đầu đối với mọi thế hệ cầm bút trước trọng trách linh thiêng “làm nhân chứng của lịch sử”.

Để thực hiện khát vọng dấn thân trên con đường "muôn dặm lập ngôn dựng nghiệp", công việc tìm tòi, tạo lập cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng với các thể loại văn chương mới quả là một “thách thức sống còn”, "quyết định thành bại" đối với toàn bộ sự nghiệp sáng tác, đã diễn ra trong buổi khai mở ban đầu và xuyên suốt cuộc đời cầm bút viết văn làm báo của Ngô Tất Tố.

Với ý chí tự tin, thức thời và đam mê hành động không chịu theo một khuôn khổ nào... của người tuổi Ngọ, trong gọn một hoa giáp (60 năm), “vó ngựa” nhập thế “ắt phải bắt tay vào công việc”( ) của cây bút, Ngô Tất Tố đã tung hoành tại Hà Nội, Sài Gòn, tại nhiều tỉnh trong Nam ngoài Bắc như Chợ Lớn( ), Trà Vinh, Sóc Trăng, Hải Phòng, Bắc Ninh, Sơn Tây, Cao Bằng, Phú Thọ, Tuyên Quang... và sau Cách mạng Tháng Tám là trên chiến khu Việt Bắc.

Tuy có phần muộn mằn mới biết chữ quốc ngữ, Ngô Tất Tố lại kịp "đồng hành và trưởng thành" cùng với chữ quốc ngữ. Ngô Tất Tố đã sớm bộc lộ năng khiếu bảo vệ chữ quốc ngữ, góp phần thúc đẩy sự bùng nổ ngoạn mục của ngôn ngữ tiếng Việt - công cụ màu nhiệm thúc đẩy sự chuyển mình lịch sử, đưa báo chí, văn học cùng với nền văn hóa của đất nước rẽ bước vào hiện đại.

Điều lạ kỳ là: Trong toàn cảnh cả đất nước đang phải đối mặt và oằn mình trong cuộc vượt chuyển lịch sử lên hiện đại, đúng vào lúc “chữ Nho thất thế”, chữ quốc ngữ còn “mới nhất sơ thành lập”, trong khi nhiều thế hệ của "rừng Nho" vẫn đắm chìm trong khuôn phép của "xiềng xích", các thể loại văn chương cử nghiệp với văn sách, thơ phú, kinh nghĩa..., cây bút vốn xuất thân từ "cựu học" Ngô Tất Tố đã chủ động, dày công khai phá và thành thạo làm chủ các thể loại văn chương mới nhằm đáp ứng đòi hỏi cần phải có lối viết mới cho chữ quốc ngữ.

Ngô Tất Tố đã để lại sự nghiệp văn chương tài hoa, đồ sộ, đa dạng và đều tay các lĩnh vực: văn chương báo chí, văn chương phóng sự tiểu thuyết, văn chương khoa học lịch sử, văn chương dịch thuật và khảo cứu.

Sự nghiệp Ngô Tất Tố trải rộng trên nhiều thể loại như: chính luận, bút chiến, bình luận, tản văn, phóng sự, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết lịch sử, thơ dịch, phê bình khảo cứu văn học, nghiên cứu tư tưởng và triết học, phê bình dịch thuật... ở thể loại nào Ngô Tất Tố cũng có những công trình, những tác phẩm đặc sắc, góp phần đáng kể vào công cuộc hiện đại hoá nền báo chí, văn học và văn học nước ta nửa đầu thế kỷ XX.

Nổi trội trong nghề báo của Ngô Tất Tố là kho tản văn độc đáo, là mảng "luận chiến xã hội" sắc sảo. Vượt trội trong nghiệp văn của Ngô Tất Tố là kiệt tác Tắt đèn cùng với tiểu thuyết Lều chõng và các tập phóng sự hiện thực.

Ngô Tất Tố đã tự vượt lên chính mình để không chỉ trở thành một người tiến bộ nhất trong lớp Nho học "giữa thời tân văn" mà còn nhanh chóng hòa nhập và vững vàng trụ lại trên hàng đầu của đội ngũ những cây bút tân tiến đương đại.

Suốt đời làm báo viết văn, Ngô Tất Tố không làm chủ bút, chẳng là chủ báo, càng không làm chủ nhà xuất bản mà chỉ làm “bỉnh bút”, tức người viết bài và là tác giả có tác phẩm gửi đi in.

Đặc điểm lớn nhất là: hầu như toàn bộ sự nghiệp sáng tác to lớn của tác giả đến tay bạn đọc trước hết là bằng con đường báo chí, phương tiện có sức truyền bá rộng lớn và nhanh chóng nhất tới công chúng, sau đó mới in dần thành sách để lưu giữ dài lâu trong đời sống xã hội.

Số lượng lớn các tờ báo, tạp chí mà tác giả từng cộng tác qua các thời kỳ lịch sử cùng với sự đa dạng, phong phú của các bút danh đã khẳng định con đường và địa bàn giao lưu sâu rộng với quảng đại công chúng của Ngô Tất Tố nhằm thực hiện khát vọng cháy bỏng là chăm lo cho thân phận con người, ghé vai gánh vác việc đời, mong muốn trao chuyển tới nhân gian những chiêm nghiệm trường đời. Đây chính là cứ liệu khoa học, là “văn bản học” để nhận diện sự nghiệp văn chương của tác giả.

Không chỉ đặt bút danh theo truyền thống từ gốc Hán Việt như Thiết Khẩu Nhi, Thục Điểu, Hy Cừ, Xuân Trào, Thuyết Hải, Đạm Hiên..., Ngô Tất Tố còn đặt bút danh theo cách dân dã, dễ hiểu như Dân Chơi, Phó Chi..., tác giả còn là một trong số rất ít “ký giả” hồi đó đã sớm dùng bút danh viết tắt từ tên chính, cách đặt khá phổ biến sau này như T, TT, NTT... hoặc viết tắt tên các bút danh khác như TH, XT...

Bên cạnh hàng loạt bút hiệu làm báo viết văn, tác giả còn có tên là Đầu xứ Tố.

Thời còn thi cử Nho học, Đầu xứ không phải là danh hiệu chính thức được nhà nước phong kiến công nhận, mà chỉ là danh hiệu dân gian phong cho người đỗ đầu tỉnh trong kỳ hạch tuyển chọn người dự thi Hương. Khảo hạch năm ất Mão 1915, Ngô Tất Tố đỗ đầu toàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó có tên Đầu xứ Tố, sau này trong làng văn, làng báo còn gọi là bác xứ Tố. Suốt đời không bao giờ Ngô Tất Tố tự xưng danh là Đầu xứ.

Khác với bút hiệu do chính người cầm bút tự đặt ra cho mình, thì sước hiệu là cái tên do người ngoài đặt ra cho bất cứ ai, không riêng gì nhà báo nhà văn, nhằm điển hình hoá một đặc điểm nào đó của người được đặt sước hiệu, có thể là cái tên ngộ nghĩnh với mục đích vừa vui lành mạnh vừa có ý tán dương, có thể là cái tên khôi hài có ý chê bai, nặng hơn nữa có thể là cái tên trêu chọc ghen ghét. Trên trường văn trận bút, ngay từ năm 1931, Ngô Tất Tố đã biết rất rõ những bài mình viết "làm cho nhiều người cau mày nghiến răng, tím gan tím ruột", một hai nhân vật là đối tượng của các bài báo đó, đã đặt ra sước hiệu Đồ Tố, cái sước hiệu hàm ý chê bai, thiếu đứng đắn, trái ngược hẳn với những tên gọi vừa thân thương vừa quý trọng là Đầu xứ Tố hay bác Xứ Tố. Đầu xứ Tố và Xứ Tố không phải là bút danh của tác giả như nhiều sách đã in.

Trong lòng bạn hữu, quê hương và độc giả chỉ có Ngô Tất Tố hoặc “ông Đầu xứ”, “bác Xứ Tố”..., tuyệt nhiên không thấy có ai nói tới “ông chánh Tố” nếu theo như một tài liệu độc nhất, viết hoàn toàn sai và không có sự thật là “trước khi viết báo Tương lai có vài năm Ngô Tất Tố về quê làm chánh hương hội”(!?).

Các bút danh khác thuộc diện tồn nghi là: Chàng Nam, Chàng Quy, Thần Phong, Tiên Dung, X., Z.,... (chủ yếu thấy trên báo Đông Pháp năm 1943 - 1944).

Kết quả thống kê, phân loại trên 1350 tác phẩm đăng báo của Ngô Tất Tố cho biết:

- Nếu tính theo số lượng tác phẩm đạt tỷ lệ cao của từng bút danh thì: Hy Cừ có số tác phẩm nhiều nhất đạt tới 50% so với tổng số, trong khi tỷ lệ tương ứng của các bút danh khác là: Xuân Trào - 9,7%; T. - 9,3%; Thục Điểu - 8,3%...

- Nếu tính theo số lượng tác phẩm đạt tỷ lệ cao đăng trên từng tờ báo hay tạp chí thì thấy trên Đông Pháp (1941 - 1945) có số tác phẩm đạt tới 50% so với tổng số, trong khi tỷ lệ tương ứng trên một số tờ báo khác là: Thời Vụ (1938 - 1839) - 17%; Đông phương (1931) - 13%; Đông Pháp thời báo và báo Thần chung (1927 - 1929) - 8%, Trung Bắc chủ nhật (1940) - 6%...

Bút pháp của cây bút “thực học” hết lòng bồi đắp chữ quốc ngữ, ra sức góp phần hiện đại hóa nền văn học, báo chí và văn hoá của dân tộc

Thực học nơi cửa Khổng sân Trình đã trao tay cho Ngô Tất Tố “một ngoại ngữ giỏi là chữ Hán”. Chữ Hán là thứ chữ tượng hình, văn tự khối vuông, viết theo chiều dọc đứng, thường viết từ phải sang trái, nếu chỉ nghe mà không trực tiếp nhìn mặt chữ thì không thể hoặc rất khó hiểu nội dung văn bản. Đây là thứ chữ phải đi “vay mượn” nhưng đã ngự trị trong xã hội nước ta hàng ngàn năm. Biến cố bất thường - khác hẳn với các thế hệ trước đấy, Nhà nước bắt sĩ tử thi hương phải thi cả chữ quốc ngữ và chữ Pháp - đã buộc Ngô Tất Tố tới năm 14 tuổi, một lần nữa phải "học vỡ lòng", nhưng là học vỡ lòng chữ quốc ngữ, thứ chữ vừa mới ra đời được khoảng nửa thế kỷ. Đây là thứ văn tự dựa theo chữ cái La tinh, viết theo chiều ngang, viết từ trái sang phải, phiên âm ngay tiếng mẹ đẻ, có thể dễ dàng hiểu ngữ nghĩa chữ viết bằng âm thanh trực tiếp của lời nói tiếng mẹ đẻ.

Đầu thế kỷ XX nhiều nhà văn ở Trung kỳ, Bắc kỳ vào Nam kỳ sinh sống bằng nghề cầm bút. Có người ở luôn, có người đi đi lại lại, có người báo Nam kỳ không chịu “xài” đành ngược đường trở ra. Ngô Tất Tố vào Nam, đã trụ lại được, thật sự hoà nhập và hành nghề, được báo giới và công chúng Nam kỳ chấp nhận, “chịu xài”.

Cuối năm 1930, chia tay đồng nghiệp và bạn đọc phương Nam, lại thấy Ngô Tất Tố có mặt trên đất Bắc, trong chiếc áo the đen, cái quần rộng ống, khăn xếp trên đầu, cái ô trong tay, đôi giầy bạc màu, đủng đỉnh đi bộ từ làng Lộc Hà ra ga Yên Viên, lên ô tô ray hay tàu lửa đi Hà Nội. Tới những năm 30 của thế kỷ trước, cây bút vốn xuất thân từ “cựu học”, chưa qua trường lớp văn học, báo chí nào, không đi Tây về nhưng “có óc phê bình, có trí xét đoán, có tư tưởng mới, bằng ngòi bút đanh thép”, Ngô Tất Tố đã viết được “những thiên phóng sự, những thiên tiểu thuyết theo nghệ thuật Tây phương, có nhiều câu đặt rất “Tây”, làm cho người tân học phải khen ngợi”( ).

Sau này, các thế hệ đồng nghiệp muộn hơn, khi đọc những di tác của ông cũng cảm thấy “thảng thốt”, “ngạc nhiên và thú vị”: làm sao mà tác giả lại có thể viết nên những tác phẩm đặc sắc, hiện đại đến như vậy?

Đọc Cẩm Hương đình, tác phẩm đầu tay, “trận thử bút” đầu đời trước cổng làng văn của tác giả, bạn đọc lấy làm lạ vì hồi dịch Cẩm Hương đình (năm 1915)..., ông Đầu xứ đâu đã tiếp xúc được nhiều với văn hoá phương Tây mà đã viết được các câu văn xuôi chữ quốc ngữ thanh thoát, gãy gọn và dễ hiểu.

Quả là “nhờ ơn trời” được sinh ra trên đất Kinh Bắc - một “cái nôi trường tồn” của tiếng Việt Kinh, nơi có kho tàng văn hóa dân gian đầy sức sống ngay khi chữ Hán còn đang “thống trị” và trước cả khi chữ quốc ngữ chưa ra đời, Ngô Tất Tố đã thoả sức tận hưởng tư duy ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ - ẩn tàng dưới dạng “khẩu ngữ” dẫu rằng từ bao đời dân mình vẫn chưa có “chữ viết riêng”.

Tài năng và tâm huyết Ngô Tất Tố phát xuất là nhờ thiên lộc bẩm sinh từ vùng đất địa linh nhân kiệt của dân tộc, lại còn tùy thuộc rất lớn vào kết quả trau dồi về học vấn, trí tuệ, vào quá trình tích lũy vốn sống mà bí quyết thành công là "đức tự học".

Cốt cách tâm thức của Ngô Tất Tố không ngừng được chung đúc, liên tiếp chuyển đổi, biến hóa tạo nên những "sắc thái Ngô Tất Tố" mới lạ, bất ngờ vẫn trong một "con người Ngô Tất Tố" bình dị, thân quen. Nhờ có “đức tự học” và am hiểu Hán học, Ngô Tất Tố đã dày công ngược dòng lịch sử, khai thác và giao hoà nhuần nhuyễn truyền thống tâm thức của tổ tiên dân tộc, tâm linh của Phật học với tinh hoa về đạo làm người, về nhập thế của đạo Nho, và với những xu hướng tiền tiến của thế giới bên ngoài.

Nhân cách trong sạch, khí phách cương nghị, không lùi bước và bảo vệ chính kiến đến cùng, không buông lơi “nhập thế”, yêu thương mãnh liệt con người, đất nước..., tất cả đã hình thành nên cốt cách văn chương Ngô Tất Tố độc đáo, mới lạ, khác thường trong đời sống văn học, báo chí đương thời. Đó là tài tả chân, lối viết xác chỉ, trực diện, chính diện, khôn khéo vận dụng văn chương truyền thống phươơng Đông và tinh hoa hiện đại của văn hoá ph-ương Tây.

Đương đầu với bão táp của buổi giao thời lịch sử, giữa cũ và mới, giữa truyền thống với ngoại lai, trước mọi đè nén, chèn ép, chống đối, hăm doạ, trước những cạm bẫy, cám dỗ, lung lạc... trong cõi nhân gian, văn chương Ngô Tất Tố đã chiếu thẳng vào nhân vật, đề cập luôn tới sự việc, nói ngay ra ý sẽ bàn..., không mập mờ, vòng vo, không phiếm chỉ, không e ngại né tránh và thần tình “tả thực” nhiều chiều, nhiều mặt sự đời, việc đời. Trong số hơn 800 di tác, Ngô Tất Tố đã đề cập tới hơn 400 sự việc và nhân vật đều có địa danh cụ thể, họ tên rõ ràng.

Bút pháp Ngô Tất Tố giàu tính nhân văn, chững chạc nghênh chiến, đường hoàng ra quân, ung dung linh hoạt đối thoại, khi đồng tình thì nhẹ nhàng nhân từ, khi thuyết phục thì đanh thép thâm thuý, lúc thắng thế thì khiêm nhường tỉnh táo, khi công kích thì cứng cỏi đáo để, khi châm biếm thì tinh quái chua ngoa... Văn chương Ngô Tất Tố chọn lựa cẩn thận "chữ dùng tiếng đặt" sao cho dễ hiểu, không cầu kỳ, câu văn ngắn gọn, súc tích, mạch văn rất giàu hoạt cảnh, ăm ắp hình tượng được nhân cách hoá, điển hình hoá, giỏi thuật tạo tương phản đăng đối, nhuần nhuyễn sử dụng nguồn văn học dân gian, điển cố và sự tích ngay trong cách viết hiện đại. Tính riêng trong 656 bài tản văn đăng trên báo Đông Pháp giai đoạn 1941 - 1945, tác giả đã 156 lần sử dụng tư liệu văn hoá dân gian và 124 lần dùng điển cố.

Văn chương Ngô Tất Tố có bản sắc riêng, không bắt chước, không lẫn lộn với cách viết của bất kỳ ai, mạch văn tới tấp, rất khoẻ, sống động, có sức khêu gợi khác thường, có sức lôi cuốn mạnh, khát khao mở ra những hướng mới, đã lôi cuốn bạn đọc vào những sự việc thân gần thiết thực trong cõi người Việt Nam, hoàn toàn với tinh thần, tư tưởng, truyền thống Việt Nam, đúng với cách nghĩ, cách diễn đạt quen thuộc của người Việt, với lối viết rất Việt Nam, đã xác lập vị trí hàng đầu trên văn đàn và báo chí của Ngô Tất Tố giữa thời kỳ chuyển đổi lịch sử lên hiện đại của nền văn hoá dân tộc trong nửa đầu thế kỷ XX.

Sau hơn một thế kỷ phát triển kỳ lạ và nhanh chóng của tiếng Việt, ngày nay, chúng ta thật khó hình dung ra những bỡ ngỡ, trắc trở, những vật lộn đầy gian nan của những người "viết văn làm báo" hồi đầu chữ quốc ngữ còn "nhất sơ thành lập". Ngay từ buổi khai mở ban đầu, Ngô Tất Tố đã có “những tuyên ngôn” sâu sắc, quyết liệt nhưng rất dễ hiểu, hết sức thiết thực đối với chữ quốc ngữ, đối với văn chương quốc ngữ.

Giữa lúc “bút lông” với “bút sắt” đang chống chọi và thôn tính nhau, Ngô Tất Tố đã dứt khoát: "Nước ta thuở trước văn học chuyên theo chữ Tàu, đó là một điều lầm to, không cần bàn tới”, muốn chuyển hướng, thoát ra khỏi sự kìm hãm, trì trệ, "muốn cho văn chương được mau tiến bộ thì nay trong trường văn học gấp gấp phải có cuộc cách mạng", phải ráo riết chống lại "bệnh mê xưa chuộng cũ"( ).

Ngô Tất Tố khẳng định: "chữ quốc ngữ mang tiếng là nôm na, nhưng chữ nào cũng có nghĩa nấy", "đã gọi là văn, thì ngoài sự đạt ý còn phải theo thế câu mà đặt chữ, miễn sao xem hiểu"( ). Tác giả hết sức coi trọng "chữ dùng tiếng đặt", “nguyện có thần của ngòi bút”, viết "phải tuân theo luật thiên nhiên của chữ quốc ngữ", viết như nói và phải theo "thói quen cha ông mình vẫn nói"( ). Tác giả viết như nói nhưng không hạ thấp chuẩn mực của văn viết và có biệt tài sử dụng vốn từ thuần Việt, nguồn từ Hán Việt.

Phê bình lối văn ông Hoàng Tích Chu (1931), Ngô Tất Tố nhấn mạnh “nghề viết văn... phải cần có đức tính thật thà, nghĩa là cái gì mình biết thì hãy nói, mà đã nói thì phải nói cho rõ ràng gãy gọn như hai với hai là bốn”.

“Khi nào định phiếm chỉ thì dùng tiếng nói chung, còn khi nào định xác chỉ thì muốn nói cái gì phải gọi tận tên cái ấy - Nghĩa là phải có dẫn chứng cụ thể, có địa chỉ rõ ràng để người đọc có thể kiểm tra, xác minh. Khi độc giả đã không thể tra cứu để biết được nhà báo viết sai hay đúng thì tác giả viết sao, người đọc cũng phải tin là chân lý”. "Nếu vậy thì tôi chỉ cần học vài chục tên người hoặc tên học thuyết là tha hồ nói trời nói đất... Cái lối văn ấy, cái lối văn chỉ nêu mấy cái tên người, tên sách, tên học thuyết để loè người đó, tôi gọi là lối văn "bịp". Bịp vì mình không học mà làm bộ có học. Bịp với ăn gian cũng là một môn. Đã không dám ăn gian độc giả thì không thích lối văn “bịp"".

Lên án lối văn ăn gian, bịp bợm, Ngô Tất Tố đòi đặt ra "thuế nói phét để đánh vào loại học thức vo tròn đựng không đầy đồng hến mà viết báo dám nói dìu dắt giống nòi vượt qua hết các trở lực để đi đến cõi tương lai rực rỡ"( ).

Cây bút sớm tự ý thức cao về nghề báo nghiệp văn - Nhà báo lớn tiêu biểu của dòng báo chí công khai yêu nước, nhà văn tiên phong sáng lập và phát triển dòng văn học mới

Sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố to lớn, không thua một nhà báo kỳ cựu nào ở nước ta xưa nay, thế mà năm 2001, lần thứ nhất, một hội đồng tư vấn cho Dự án nghiên cứu khoa học về báo chí Ngô Tất Tố, gồm các nhà khoa học, các nhà quản lý và “Hà Nội học” đã kết luận: Ngô Tất Tố không phải là nhà báo (!?) mà chỉ là một nhà văn. Sau đó một hội đồng khác, được tổ chức lần thứ hai, đã bác bỏ kết luận của hội đồng trước, khẳng định Ngô Tất Tố không chỉ là nhà văn mà còn là nhà báo lớn, trước khi là nhà văn thành danh, Ngô Tất Tố đã là nhà báo có tiếng.

Căn cứ vào sự nghiệp báo chí của Ngô Tất Tố, đặc biệt là khối lượng lớn di tác mới tìm thấy, hội đồng này đã nhất trí nên triển khai đề tài nghiên cứu về báo chí Ngô Tất Tố. Liên tiếp trong các năm 2003 và 2005, với lực lượng hơn 60 giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học chuyên ngành, am hiểu về văn học và báo chí, Thành phố Hà Nội đã thực hiện thành công hai đề tài nghiên cứu khoa học về di sản báo chí Ngô Tất Tố. Sách Tổng luận về kết quả thực hiện Đề tài lần thứ nhất đã phát hành trên toàn quốc và giới thiệu tới toàn thể đại biểu dự Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ VIII - Tháng 8/2005.

Trên "con đường lập ngôn" đầy chông gai thách thức, Ngô Tất Tố là ký giả tiêu biểu của dòng báo chí công khai yêu nước, tự ý thức cao, không ngừng xoay sở tìm cách góp phần đưa nghề báo chuyển sang hiện đại.

Cách đây 70 - 80 năm, khá nhiều “ký giả”, nhất là những người thuộc tân học, trên các báo, đã trực tiếp viết những bài báo ngắn, chỉ vài ba cột, trong các đề mục hay thay đổi tên nhằm đáp ứng đòi hỏi cần phải có lối viết mới cho chữ quốc ngữ. Riêng Ngô Tất Tố, không chỉ nêu lên sự cần thiết phải viết các bài kiểu đó, trong hàng chục năm còn góp phần tích cực để định hình, hoàn thiện và đưa kiểu viết đó không ngừng phát triển về cả nội dung lẫn nghệ thuật.

Tại Nam Kỳ, Ngô Tất Tố đã ươm mầm "tả chân" các chuyện đời có thật cùng lời bình gẫy gọn trong những bài viết cực ngắn. Đây chính là các bài viết manh nha của tản văn như: Chơi kiểu gì vậy, Vì ghen Tây với Tây hành hung, Nhà việc hay tiệm giặt, An Nam hút máu An Nam, Làng kiện làng, Dân lạy quan... Sau khi trở ra Bắc, Ngô Tất Tố đã có chủ ý muốn biến cải mặt báo theo hướng hiện đại, đã ráo riết mở chuyên mục trên mặt báo, tạo dựng “sân chơi hấp dẫn” nhằm đáp ứng nhu cầu cần “nhanh gọn” của bạn đọc khi thưởng thức “văn hoá đọc” trên báo chí. Nói riêng về độ dài ngắn, hầu hết các bài tản văn( ) của Ngô Tất Tố biến động từ vài trăm cho đến khoảng ngàn rưởi chữ, không nên nhầm lẫn, phân loại sai những bài bình luận, chính luận, bút chiến... của tác giả sang thể loại tản văn.

Ra tuyên ngôn nhận chức Gặp đâu nói đấy cho Thiết Khẩu Nhi, Ngô Tất Tố viết: “Cái chức đó tuy nhỏ mọn mà cũng nặng nề. Nói là “gặp đâu nói đấy” cũng là nói cho gọn thôi. Kỳ thực việc đời chan chan nói cũng không hết. Những việc nhỏ mọn như những chuyện chim chuột trăng hoa, những chuyện lường đảo trộm cắp, Thiết Khẩu Nhi quyết không khi nào dúng miệng làm chi. Những vấn đề lớn lao man mác như khoa học, triết học, Thiết Khẩu Nhi không đủ chỗ mà nói.

Nói cho rành mạch, cái thiên chức của Thiết Khẩu Nhi có già nửa hay non nửa cột báo là hết. Sau khi nhận chức Thiết Khẩu Nhi hành động ra sao? Các ngài hãy coi lần lần"( ).

Khi Thục Điểu lĩnh trách nhiệm mở chuyên mục Nói Chơi, Ngô Tất Tố diễn giải: "Cuộc đời chỉ là chỗ "trò chơi" của các đấng siêu việt, người đời chỉ là "kẻ làm đồ chơi" cho các đấng ấy". Có điều mỗi người "chơi" một khác: “Anh hùng hào kiệt, chơi bằng sự nghiệp thanh danh, đại thánh đại hiền chơi bằng luân lý đạo đức, các nhà chính trị chơi bằng lưới phép cạm hình, các nhà võ bị chơi bằng máy bay tàu chiến, nhà săn bắn chơi bằng súng, nhà kiếm hiệp chơi bằng gươm, bọn đổ bác chơi bằng lá bạc quân bài, khách hoa nguyệt chơi bằng tiếng hát, cung đàn, gái giang hồ chơi bằng màu son nước phấn... Thục Điểu cũng sinh ra ở cái bầu “chơi” này, lẽ tất nhiên là phải chơi, nhưng Thục Điểu không chơi bằng những món kia mà chơi bằng lời nói”( ).

"Sân chơi trên mặt báo" của Ngô Tất Tố luôn đầy ắp “muôn mặt chuyện đời”. Quý trọng đức thật thà, bực mình trước mù mờ đen trắng lẫn lộn, ghét bỏ thói điêu ngoa, lường gạt..., Ngô Tất Tố đã ngay tức khắc làm cho “sân chơi náo động” ngày càng hấp dẫn và ngay tức khắc trở thành “đấu trường sục sôi quyết liệt”.

Ngô Tất Tố tiêu biểu cho lớp ký giả vừa sáng tác, vừa tự ý thức cao về nghề báo và khát khao hươớng tới hiện đại.

Ngô Tất Tố chỉ rõ: “Một tờ báo phải có một cái tôn chỉ để làm con đường mà đi. Tôn chỉ của báo nào cũng như người chồng của báo ấy. Con gái đã nhận người nào làm chồng, theo đúng đạo đức luân lý là không thể cùng gối chung chăn với người khác. Tờ báo đã dùng chủ nghĩa này làm tôn chỉ thì cũng không thể bắt quàng sang chủ nghĩa khác” báo "không thể vô luận bài nào bất cứ là hay hay dở, đăng bừa đi" khác chi "nhà thổ thấy ai cũng tiếp, miễn là có tiền"( ).

Theo Ngô Tất Tố “làm báo phải quý trọng độc giả, không được đem những tư tưởng hoang đường, văn chương thô bỉ mà công nhiên bầy lên mặt báo để làm dơ mắt độc giả". Phải tiến hành "nhổ cỏ trong làng báo" để quét sạch bẩn thỉu, rác rưởi trên mặt báo, để chống lại cách viết "mập mờ, điêu ngoa, giả dối, mạ lại tin tức", chứ không phải vì đố kỵ, tị hiềm vì "nhà sư có bao giờ ghen với cô đầu"( ).

Bàn về Cái quý trọng độc giả của tờ báo nọ (1931), Ngô Tất Tố viết: “Giả sử bọn xẩm mà có thể viết báo, tất nhiên họ cũng biết tờ báo phải quý trọng độc giả. Bởi vì nếu không có độc giả thì báo in ra làm gì? Sống với ai được? Độc giả với báo cũng như rồng với mây, cá với nước, không thể nào mà rời nhau được. Làm báo phải quý độc giả, đó là lẽ tất nhiên”.

Vạch mặt lối quảng cáo lừa bịp để ăn tiền Ngô Tất Tố viết: “Trừ tờ Đông phương và tờ Thực nghiệp, chúng ta luôn luôn thấy lời rao của các thầy tướng. Trong các lời rao đó, họ nói như rồng như phượng... Các ông nhà báo từ những ông thiểu học, cũng biết chắc rằng những lời rao đó toàn là nói láo, đời nào một người Tàu thất nghiệp sang đây mà có tài tiên tri như vậy? Biết họ nói láo mà sao mấy ông vẫn cho họ mượn tờ báo mình để lừa đảo độc giả? ấy là vì họ có tiền. Một tháng họ có mười đồng cho mấy ông thì mấy ông cho họ mượn báo của mình mà hàng ngày đánh lừa độc giả. Độc giả vĩ đại bị lừa, mấy ông có bị lừa đâu!”( ).

Khi viết báo Tương lai, Ngô Tất Tố đã công khai tuyên bố tôn chỉ của báo với bạn đọc: “Tương lai là tờ báo đi về phía tả, ủng hộ chính phủ Bình dân, công việc Tương lai đang làm và sẽ làm chỉ là những việc của chính phủ Bình dân đương lần lượt tiến hành. Những kẻ Tương lai không dung chỉ là một bọn nghịch với dân chúng, nghịch với chính phủ Bình dân”( ).

Một lần nữa mở mục Gặp đâu nói đấy trên Thời vụ (1938), Ngô Tất Tố đề dẫn: “Bắt đầu viết cột báo này, tôi cố tìm một cái đề mục thật rộng, để nói cho được nhiều chuyện. Trong thành ngữ của kho từ điển Việt Nam, tưởng không tiếng nào rộng bằng tiếng “gặp đâu nói đấy”. Bất cứ kinh tế, chính trị, xã hội chi chi, đều đưa vào đó được cả”. Như thế, trên “sân chơi” của mình, Ngô Tất Tố có thể quan tâm đến mọi vấn đề của xã hội để thực hiện trách nhiệm cao cả là “hướng dẫn dư luận” cho quốc dân đồng bào.

Rất coi trọng việc đặt tên cho các đề mục, từ năm 1928, Ngô Tất Tố đã giải nghĩa bằng hình ảnh, sinh động và dễ hiểu: "Đề mục trên mặt báo như cái mắt ở mặt người". Đề mục mà dùng “mấy chữ mà bất thông thì văn chương tư tưởng còn ra gì nữa”.

Chuyện hàng ngày, Nói mà chơi, Gặp đâu nói đấy, Thật hay bỡn, Ném bùn sang ao, Chuyện làng tô, Thơ và Tình, Dưới mắt tôi, Tình kinh.... là những chuyên mục do chính tác giả lập và trực tiếp viết bài đã nuôi dưỡng lâu dài trên nhiều tờ báo và tạp chí.

Trong một bài tản văn ngắn gọn vài ba trăm chữ để tới tấp tạo nên những trận đánh áp đảo nhằm vạch trần và lên án những thói đời mất nhân tính, những thủ đoạn đen tối chà đạp nhân bản, đương nhiên bút pháp tản văn “xác chỉ” Ngô Tất Tố phải hết sức súc tích, chính xác, giàu hình tượng, có sức cảm hoá và thuyết phục cao, hết sức thân mật, gần gũi với độc giả.

Từ Thiết Khẩu Nhi Gặp đâu nói đấy trên báo Phổ thông (1930), Thục Điểu Nói mà chơi trên báo Đông phương (1931) đến Phó Chi Nói giữa trời trên Thực nghiệp dân báo, Ném bùn sang ao trên báo Tương lai (1937), từ Xuân Trào viết Thật hay bỡn trên báo Thời vụ đến Hy Cừ kể Chuyện hàng ngày trên báo Đông Pháp (1941 - 1945)... tản văn Ngô Tất Tố không chịu ảnh hưởng của một xu hướng nào, không sao chép lối viết của tác giả nào, mà là tài năng hoàn toàn Việt Nam.

Biệt tài “công phu chọn bút danh, hóm hỉnh mở chuyên mục, sắc sảo viết tản văn” suốt 15 năm trời, đ• tạo nên “sân chơi hấp dẫn, đấu trường sôi động” trên mặt báo, đem lại “kho tản văn Ngô Tất Tố” phong phú độc đáo, giữ vai trò hàng đầu góp phần định hình và đưa thể loại tản văn lên vị trí ngang hàng với các thể loại khác trong lịch sử văn chương báo chí nước nhà.

 Tại Nam Kỳ, Ngô Tất Tố bắt đầu viết hàng loạt bài “chính luận” mang “khẩu khí đại luận”, nhiều năm sau Ngô Tất Tố đã trực diện bình luận, chính diện đối thoại, bút chiến... với đông đảo hàng ngũ các học giả, chính khách, các nhà hoạt động xã hội thành danh, các tổ chức và bạn đồng nghiệp trong làng văn làng báo.

Ngô Tất Tố còn phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống và làm việc của đội ngũ báo giới trong Nam ngoài Bắc, góp phần viết nên những trang sử báo chí nước ta nửa đầu thế kỷ XX.

 Giữa không khí ra đời và phát triển sôi động các dòng văn học khác nhau của đất nước, từ tản văn hiện thực vượt sang tiểu thuyết tả chân, Ngô Tất Tố dọn đường khơi mạch, rồi đĩnh đạc cất bước trên con đường hiện đại hóa nền văn học.

Ngô Tất Tố đã hoá thân vào những thân phận đau khổ nhất, gian truân nhất trong cõi người của hai lớp người đông đảo nhất, nổi bật nhất trong xã hội đương thời ở nước ta là “dân quê” và “kẻ sĩ” để viết nên Tắt đèn và Lều chõng.

Trong những thập niên đầu thế kỷ XX ở nước ta, sau khi nền giáo dục Hán học sụp đổ, đã xuất hiện trào lưu dịch tiểu thuyết Tàu ra quốc văn của nhiều người vốn xuất thân cựu học. Bàn về vai trò của tiểu thuyết, Ngô Tất Tố viết: "Thế gian có một vật, thuốc không thuốc mà say, bùa không bùa mà mê, không phải bể sắc, không phải sóng tình mà người thường đắm đuối, đó là vật gì? Tức là tiểu thuyết. Lạ thay cái ma lực của tiểu thuyết, nếu ai đã bị quyến rũ, thì phần nhiều là dứt không đứt, gỡ không ra, muốn bỏ đi cũng không đặng... Ghê thay cái ma lực của tiểu thuyết!". "Tiểu thuyết lại có cái năng lực khác rất thần diệu là người nào bị nó làm cho đắm đuối mê say, thì cái tính tình bản lai thường cũng theo với tánh chất của tiểu thuyết mà thay đổi. Có khi lành đổi ra dữ, nhát đổi ra bạo, chín chắn đổi ra lẳng lơ”.

Trước thực tế “sách tiểu thuyết nghe đã mọc thành rừng, nếu ai thử qua một tiệm sách ở Hà Nội hoặc ở Sài Gòn thì sẽ thấy muôn loại tiểu thuyết có lẽ không thiếu một thứ gì”, Ngô Tất Tố đã phải kêu lên "nhưng ngán thay, cái vẻ sầm uất đó chỉ là quang cảnh bề ngoài mà xét đến bề trong thì thiệt là chông gai, rơm rác. Truyện xã hội toàn là “hương diễm ái tình, say hoa đắm nguyệt”, truyện võ hiệp ngoài sự “yêu tăng hoá phép, đạo sĩ thử bùa” thì hết ý, truyện luân lý gợi đến “tài tử kén vợ, giai nhân tìm chồng” thì hết nghĩa, truyện lịch sử thường bàn về “đảng trung vinh hiển, đảng nịnh tàn vong”, truyện trinh thám kể đến “án mạng vô hình với cái gan vào sanh ra tử của thám tử”. "Về cách kết cấu lại rất tầm thường, trông tới nhan đề có khi lại biết hết đại ý trong truyện, nguy hại hơn là "cuốn nọ mô phỏng cuốn kia, mô phỏng một vài thiên hoặc mô phỏng cả toàn truyện". Sau khi vạch ra tác hại của tiểu thuyết với nhân cách xã hội trước hết là “trong những hạng người thanh niên là người hay đọc tiểu thuyết", Ngô Tất Tố báo động “từ khi rừng tiểu thuyết quốc văn gây giống tới nay đã huỷ hoại hết biết bao là nhân cách trong xã hội", "cái rừng tiểu thuyết kia mà còn một ngày chưa sửa sang, thì phong tục nhân tâm còn trăm ngàn bị đồi tệ, đáng lo!"

Từ cái “lo lắng” về “rừng tiểu thuyết dịch” đã chuyển sang trăn trở về “cái yếu kém” ngay trong sáng tác tiểu thuyết của văn học chữ quốc ngữ đương thời.

“Khi nghĩ lại tình hình quốc âm của ta”, nhận thấy: “Sau một thời kỳ lâu dài bị ruồng bỏ, khinh rẻ, quốc âm ta đã được để ý đến và đơược kể là khí cụ của văn chương”, Ngô Tất Tố đã phát hiện: “Nếu có yếu kém chỉ thiếu kém về tiểu thuyết và tản văn”( ).

Những tác phẩm xuất sắc về tản văn (như đã trình bày) và về tiểu thuyết của chính Ngô Tất Tố đã góp phần đáng kể khoả lấp hiện tình “thiếu kém” mà tác giả đã cảm nhận được.

Tiểu thuyết là thể loại tiêu biểu nhất, xứng đáng đại diện nhất cho văn nghiệp của một tác giả.

Giá trị độc đáo, nổi trội của Tắt đèn là đã "tả thực" thành công "cảnh đời" diễn ra trong đám "yếm nâu váy mốc, áo cộc quần cùn", xảy ra giữa cõi dân quê đông đảo nhất, máu thịt thân thương nhất, gắn bó sinh tử nhất với cả dân tộc dưới thời nô lệ.

Hơn sáu chục năm trước, khi vừa ra mắt bạn đọc, Tắt đèn đã thu hút sự quan tâm của nhiều đồng nghiệp.: "Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy"( ).

"Tắt đèn! Tôi đã bật đèn lên đọc hết cuốn truyện ấy rồi. Trong nửa giờ. Hay lắm! nên đọc. Trong rừng văn, một cuốn tiểu thuyết như thế, thực hiếm"( ).

 "Chỉ một chỗ dám dùng lối văn tả thực - và dùng nó có hiệu quả tốt đẹp - chỉ một chỗ đó đủ đem lại vinh dự cho tác giả. Tắt đèn đứng vào hàng những cuốn tiểu thuyết tả chân có giá trị trong văn chương Việt Nam. Tôi không chắc sau này có cuốn nào hơn nó không, nhưng tôi dám quyết trước nó chưa có cuốn nào"( ).

Từ năm 1956, Tắt đèn được giảng dạy trong các trường phổ thông. Trên giảng đường đại học, từ năm 1958, Tắt đèn được giảng trong thân thế và sự nghiệp Ngô Tất Tố. "Người hay chó", ấn phẩm trích từ Tắt đèn được in và phát hành giữa Sài Gòn trước năm 1975. Tính đến năm tác phẩm được 70 tuổi (1939 - 2009), Tắt đèn được các nhà xuất bản trong nước và nước ngoài tái bản đã gần 80 lần, những lần in nhiều nhất là tám vạn, năm vạn bản. Các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân đã từng viết lời giới thiệu khi tái bản Tắt đèn. Tắt đèn đã được dịch ra 7 thứ tiếng, đã được chuyển thể thành phim Chị Dậu (1980), thành truyện tranh Chị Dậu (2009).

Không giống các tác giả viết về giáo dục Hán học trong những năm từ 1937 đến 1945, đều đã ít nhiều sa đà vào khuynh hướng suy tôn một chiều Nho giáo, ngợi ca cuộc sống vinh danh của kẻ sĩ, khi viết Lều chõng, Ngô Tất Tố đã có cách nhìn và thủ pháp nghệ thuật sáng tác khác hẳn.

Lều chõng là một điển hình về khai phá thể loại tiểu thuyết mới, mới cả về nội dung và nghệ thuật sáng tác, là sản phẩm văn chương đặc trưng hiếm có đương thời, là mẫu hình thể loại tiểu thuyết khó hy vọng có thể có trong tương lai.

Là tiểu thuyết lịch sử, Lều chõng chủ yếu đề cập đến nền giáo dục Hán học khi còn đương thịnh vượng hồi giữa thế kỷ XIX, lúc thực dân Pháp chưa xâm chiếm nươớc ta. Lều chõng đã mô tả tỉ mỉ qui trình đánh giá kết quả dạy và học trong cộng đồng và cách “tuyển chọn người tài” của Nhà nước phong kiến tập quyền đã ra tay cai quản, chính thức áp chế bằng “khoa cử”: từ khảo hạch tới các kỳ của thi Hương cho đến thi Hội, thi Đình.

Là tiểu thuyết phóng sự, Lều chõng đầy ắp tư liệu về truyền thống hiếu học, về quá trình “xã hội hoá” dạy và học của nền giáo dục thời xưa diễn ra rộng khắp do quảng đại dân chúng lo liệu với sự cống hiến  hết mình và tâm huyết vô cùng to lớn của biết bao thế hệ các bậc “Thầy Đồ”.

Là tiểu thuyết phong tục, tâm lý xã hội, Lều chõng không chỉ làm sống lại không khí “xã hội ngày xươa” với những đặc trơưng trong các mối quan hệ gia đình, tộc phả, làng xã... mà còn lột tả trạng thái tâm lý của cả xã hội bị chìm đắm trong “tư tưởng học để làm quan” đã kết đọng thành lẽ sống mãnh liệt trùm lợp lên cả cộng đồng, đã chi phối cả tình yêu nam nữ, hôn nhân gia đình, tâm lý, nếp nghĩ của mọi người dân và điều hành tư tưởng của toàn xã hội. Sau những ác mộng về khoa cử, “cái thần của Lều chõng” là vợ chồng Vân Hạc đã tỉnh ngộ, nhất mực đồng cảm, rũ bỏ tất cả, trở về với đời thường.

Lều chõng là nguồn vô tận, liên tục cho ra đời và không ngừng bồi đắp nên “rừng Nho”, lớp lớp “kẻ sĩ”, giai tầng đứng đầu trong “tứ dân - sĩ nông công thương” thời phong kiến.

Lều chõng không chỉ là chuyện văn chương, chữ nghĩa, Lều chõng còn gắn bó mật thiết đến vận mệnh đại sự của quốc gia, đến sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước.

Lều chõng là “một tua du lịch” sinh động và thú vị, lội ngược dòng thời gian để tiếp cận và khám phá về “khoa cử” thời xưa, về những “cảnh tượng kỳ quái, có thể khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rùng rợn hồi hộp" do “Ông Tạo vật Lều chõng” đã gây ra cho các bậc tiền bối, cho tổ tiên của mình. Lều chõng đã được tái bản 23 lần, đã được chuyển thể thành phim truyền hình Lều chõng - 23 tập, đã công chiếu (tháng 9, 10/2010).

Người đọc dễ dàng cảm nhận được vai trò nhân chứng trực tiếp và đích thực, công phu quan sát tinh tế, nghệ thuật tường thuật chính diện, sắc sảo khi đọc phóng sự của Ngô Tất Tố.

Từ năm 1933, khi mở Thọ dân y quán (không phải muộn hơn vào năm 1935 như các tài liệu đ• viết), với tư cách người trong cuộc, Ngô Tất Tố đ• sáng tác phóng sự Dao cầu thuyền tán. Sau Dao cầu thuyền tán là hàng loạt bài điều tra về Giết người lấy của, về chân tướng của các “anh lang, chú lang, ông lang, cụ lang” đến “tổ sư, thánh sư, tiên sư” của nghề “lang băm”... đã có tiếng vang, thúc đẩy sự phát triển của phóng sự - thể loại còn non trẻ trong làng báo ở nước ta.

Từ những hồi ức trực tiếp của tác giả về “cái đình”, về “việc làng” của những năm còn đi trọ học cộng với những kiến văn về cổ học phong phú, sự dày dạn, từng trải đường đời giữa dân quê, Ngô Tất Tố đã sáng tác Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940) và hàng loạt di tác cùng chủ đề khác.

Phóng sự của Ngô Tất Tố không chỉ giới thiệu với bạn đọc diễn biến của hiện thực trong xã hội, mà còn thể hiện tầm hiểu biết sâu rộng về nguồn gốc, về lai lịch của các vấn đề được miêu tả và quan trọng hơn nữa là người đọc còn cảm nhận rõ rệt chính kiến - lúc thì mềm dẻo khi thì rất mực kiên định - của chính tác giả trước sự đời việc đời.

Phóng sự của Ngô Tất Tố là tấm gương phản chiếu sinh động hiện thực xã hội, bao hàm nhiều bài học thiết thực có giá trị về nghệ thuật sáng tác phóng sự cho những ai đam mê, một lòng một dạ nuôi dưỡng ham muốn theo đuổi nghề viết phóng sự.

"Nội dung và tài nghệ tả chân" khi cho ra đời Tắt đèn, Lều chõng cùng với các truyện ngắn, phóng sự, ký sự... từ giữa những năm 30 của thế kỷ trước của Ngô Tất Tố đã khẳng định thời điểm tác giả chính thức chiếm lĩnh "nghệ thuật tả thực trong văn chương", đã vĩnh viễn tôn vinh tác giả lên hàng tiên phong những nhà văn sáng lập và phát triển dòng văn học mới - văn học hiện thực trong lịch sử văn học của dân tộc.

Thành tựu nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố là sự xuất hiện dồn dập hàng loạt tác phẩm báo chí xuất sắc, đan xen với sự ra đời các tác phẩm văn học chiếm đỉnh cao trên văn đàn. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Tất Tố cho thấy: nhà báo bút chiến xã hội nổi tiếng đã chuyển hóa thành nhà văn tài hoa. Nhà văn tài hoa lại chính là hiện thân của nhà báo có biệt tài.

Nhà văn hoá, nhà trí thức thời hiện đại với khát khao giao lưu và trao truyền những cảm thụ và chiêm nghiệm về “nhân tình thế sự” tới cõi nhân gian

Vốn xuất thân từ Nho học, với đức tính ham học hỏi, sau nhiều lần tự chuyển đổi, vượt lên chính mình, Ngô Tất Tố không dừng lại là một nhà trí thức am hiểu Hán học mà đ• trở thành nhà văn hoá, nhà trí thức thời hiện đại. Ngô Tất Tố từng sánh vai đối mặt bút chiến, tranh luận, bàn về thời cuộc, thế sự... với dàn “học giả học thật” của đất nước hồi đó như Bùi Bằng Đoàn, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Vĩnh, Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu, Vũ Ngọc Phan, Phan Khôi, Nguyễn Khắc Hiếu..., với các nhân vật đầu sỏ thực dân, với những đại diện của lớp trí thức thân cận của bộ máy nhà nước đương quyền cùng đông đảo các đồng nghiệp làm báo viết văn, kể cả các bạn hữu thân gần. Cây bút Ngô Tất Tố đã gửi tới bạn đọc những “thông điệp” dễ hiểu, dễ đọc, dễ nhớ nhưng có ý nghĩa dài lâu cùng thời gian.

Ngô Tất Tố không chọn chính trường làm nơi lập nghiệp, nhưng trong đời đã nhiều phen bất ngờ và táo bạo xuất hiện trên công luận, tuyên chiến trực diện với thủ đoạn cai trị, với những nhân vật chóp bu và cả với các tổ chức trong bộ máy cai trị của Nhà nước đương thời: Từ Thống đốc Nam Kỳ đến Thống sứ Bắc Kỳ, từ Bộ Thuộc địa đến đại sứ Godard, từ Bộ Lại đến Viện Dân biểu cho tới quan lại ở tỉnh, huyện và đám tay chân tận thôn làng...

Tác giả không quên mỉa mai bọn “thầy đồ thì hay nói đến Nã Phá Luân, Hoa Thịnh Đốn... mà thày ký thì luôn luôn nhắc đến Khổng Tử, Mạnh Tử... Nhưng mà có ăn thua gì, đụng đâu trật đấy, thầy đồ cũng vậy, thầy ký cũng thế”. Tác giả không kiêng nể chỉ trích bọn “học giả vô học”, bọn vô lại chạy theo danh vọng, tiền của, bất chấp nhân tính, đạo lý, lễ nghĩa... trong cái xã hội cứ “có cái thật là có cái giả”.

Ngoài vốn sống từng trải trong xã hội, Ngô Tất Tố tỏ ra có kiến thức uyên bác trên nhiều phương diện về sử học, xã hội học, về Việt Nam học, Trung Quốc học, Đông Phương học. Ngô Tất Tố vừa là tác gia tâm huyết viết sử cận đại vừa là nhà khảo cứu cẩn trọng triết học phương Đông...

Dường như mọi tư liệu, kiến văn về kim cổ, Đông Tây thâu lượm được, Ngô Tất Tố đều sắp đặt ngăn nắp, rất dễ tìm trong trí nhớ, khi cần có thể dồn ngay lên ngòi bút, trải ra ngay trên trang giấy, nhanh chóng “trò chuyện, luận bàn” với bạn đọc.

Ngô Tất Tố nhạy cảm trước mọi biến động xã hội, không ngần ngại phơi trần những vấn đề gai góc, những xung đột nổi cộm trong đời sống tinh thần và văn hóa của xã hội nước ta hồi nửa đầu thế kỷ trước, Ngô Tất Tố đã chung đúc những biểu cảm sắc sảo về “thế sự nhân tình”, đã tiên đoán nhiều điều vượt trước đương đại và khơi gợi những giải pháp xử sự để đời có ý nghĩa bền vững lâu dài.

* Về Đạo Nho

“Nho giáo tuy không phải phát nguyên ở nước ta, nhưng di cư trú ngụ ở đất Việt Nam, không phải mới một mai một tối.

Nho giáo là gì, tức là Khổng giáo, tức là tinh thần của Hán học, tức là một phần lớn trong văn minh phương Đông.

Nho giáo là một "từng" cách ngôn để làm khuôn mẫu cho đạo làm người, cổ kim đông tây cũng lắm người hiền triết phát minh những lời cách ngôn có ý nghĩa, nhưng không ai phát minh được nhiều như đức Khổng Tử. Ta có thể nói rằng: Nho giáo là nền giáo dục, là gương chân lý, là kho triết học.

Nho giáo tức là đạo "làm người", nên kẻ nào đã biết đạo làm người, thì không ra khỏi vòng Nho giáo, lắm kẻ suốt đời làm tín đồ của Nho giáo mà tự mình vẫn không biết”.

Trong hơn một ngàn năm “làm chủ vận mệnh của giang sơn” nước ta, Đạo Nho đã đào luyện, kén chọn “những ông ngồi trong miếu đường làm rường làm cột cho nước nhà”, Đạo Nho đã đào luyện, kén chọn, đã chế tạo ra các hạng người hữu dụng, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hoá, “Cũng chính Đạo Nho lại chế tạo ra các hạng người vô dụng”, đã đưa nước Việt Nam đến cõi diệt vong. Đó là do “Cái học tu thân của Hán học đã thay hình đổi dạng hoá ra cái học từ chương. Lối văn khoa cử đã là một thứ hư văn vô dụng, đã làm hư nhiều người tập về nghề ấy”( ).

Khái quát giá trị của Khổng giáo, Ngô Tất Tố viết: “Khổng giáo tôn quân quyền, trọng đẳng cấp nên Khổng giáo lợi cho sự cai trị xã hội; Khổng giáo lợi cho đạo đức cá nhân, không lợi cho đạo đức của đoàn thể khiến cho người bình dân chỉ biết phục tùng; Khổng giáo trọng về bảo thủ, lấy sự hoà làm chính, không ưa sự cạnh tranh nên ngăn trở cho tiến hoá”. Ngô Tất Tố cảnh báo: “Tệ hại hơn nữa là cái nạn “Khổng giáo giả hiệu”, là cái nạn đã có ngay sau đời Khổng Tử”. “Cái Khổng giáo” lưu hành ở ta bây giờ, thuần là Khổng giáo của Tống Nho, trộn lộn với Khổng giáo của Hán Nho, chớ chân tướng của Khổng giáo có còn đâu nữa. Khổng giáo của Khổng Tử lưu truyền có ít mà Khổng giáo của Tống Nho và Hán Nho thì lại càng nhiều, như thuyết tam cương và câu “ngã tử sự tiểu, thất tiết sự đại” (chết đói là việc nhỏ, không giữ tiết của gái goá là việc lớn) đều của Hán Nho và Tống Nho đặt ra, chứ Khổng giáo của Khổng Tử đâu có quá đáng thế! Từ nay trở đi, các nền đạo đức của xã hội - từ đạo đức của đoàn thể đến đạo đức của cá nhân - phải tựa vào tình hình sinh hoạt mà xây, dầu nó hợp với Khổng giáo hay trái với Khổng giáo, đều không cần hỏi.

* Người am hiểu “Khổng học”, tinh thông “Hán học” không hẳn là “nhà Nho”

Khẳng định “những xiềng xích văn chương cử nghiệp ngày xưa” là “cái khôn khéo nhất, đáng sợ nhất” trong “chuyên chế của phương Đông giỏi nhất gầm trời, đã được tổ chức rất màu nhiệm, lưu truyền hết đời nọ sang đời kia, khiến cho kẻ bị áp chế mất hẳn đầu óc tự do, không biết là chuyên chế nữa”, Ngô Tất Tố tự nhận: “Chính tôi là kẻ đã sống trong vòng xiềng xích ấy từ thuở lên sáu đến khi tuổi ngoài hai mươi, nghĩa là đời tôi đã quen với nó lắm rồi. Thế mà sau khoảng hơn hai chục năm thoát khỏi sự trói buộc của nó, ngày nay, mỗi lúc nghĩ lại tôi vẫn giật mình đánh thót và lấy làm lạ rằng: sao trong lúc ấy, mình không bị tù tội? Quả thật, đối với con nhà cử nghiệp ngày xưa, những xiềng xích của văn chương có thể cho là “lưới trời lộng lộng”, đụng đâu là mắc tội đấy, nếu họ chỉ vô ý một chút”( ).

Với danh tiếng ngôi “Đầu xứ” nên khi đã là một nhà văn, nhà báo thành danh, trong suy nghĩ của không ít đồng nghiệp và bạn đọc, Ngô Tất Tố vẫn đậm nét hình ảnh là “nhà Nho, nhà Nho uyên thâm”, nhưng lại cũng có ý khác, nhấn quá lên một chút đặc điểm "cổ hủ của ông đồ", thậm chí có sách viết sai sự thật, đươa “cả cái búi tó” trên đầu một học giả trùng tên đến với tác giả.

Ngô Tất Tố nêu rõ sự không giống nhau giữa những người am hiểu “Khổng học”, tinh thông “Hán học” với những người gọi là “nhà Nho”.

Nhập vai nhân vật chính trả lời Hồ Xuân Hương trong tiểu thuyết dã sử Trong rừng Nho, Ngô Tất Tố viết: “Tôi chỉ là một người có biết chữ, có đọc sách, không phải nhà Nho. Trong đám chúng tôi, có ngươời là nhà Nho, cũng có ngươời không phải là nhà Nho. Những ngơười đã đọc sách Nho, lại làm ra bộ ta theo đạo Nho, những đệ tử đắc đạo của họ thì mới gọi là nhà Nho, còn tôi, tôi đọc rất nhiều thứ sách, sách Lão, sách Trang, sách Đường, sách Mặc... không phải riêng một sách Nho. Việc làm của tôi có khi giống đạo Nho, cũng có khi trái hẳn đạo Nho, sao lại bắt tôi phải là nhà Nho”.

“Tôi bênh nhà Nho là bênh cái danh nghĩa của một phái người, không bênh những ông lên mặt ta là nhà Nho, cứ làm bộ để lấy danh vọng đó thôi, thực ra những việc của họ đã làm chẳng có cái đúng nhươ đạo Nho, họ là những nhà “hươơng nguyện”( ). Khổng Tử sống lại, chắc cũng không thèm nhận các nhà hươơng nguyện vào đám nhà Nho”. Thật: “Khó tìm thấy dấu vết “cựu học” của “ông đồ Nho” trong cách suy nghĩ của Ngô Tất Tố”, “Chỉ có thể gọi Ngô Tất Tố là “nhà Nho” với ý nghĩa tác giả có một cái vốn Hán học cao, so với đồng nghiệp lớp sau đang cùng tác giả làm báo viết sách”.

* Về kẻ thù cướp nước và lịch sử mất nước

Nói về "đại án hoàn toàn mất nước", Ngô Tất Tố viết: "làm dân một nước, tưởng không chuyện gì to lớn và đáng để ý hơn chuyện nước mình bị mất. Thế mà từ khi mất nước đến giờ, kể cũng đã gần trăm năm, cái cớ vì sao mà nước Pháp phải lấy nước ta, vẫn chưa mấy ai biết được đích xác. Đã thế, một vài cuốn sách nhồi sọ - cả Pháp văn và quốc văn - lại thi nhau phóng đại mãi chuyện cấm đạo, kết án thật nặng cho người mình và tô điểm thêm cho cuộc chinh phục nước Nam của người Pháp"( ). Ngô Tất Tố hoàn toàn đồng tình với kết luận "An Nam mất nước không vì việc cấm đạo, giết đạo", "nước Pháp sang đánh nước ta chỉ vì tình hình kinh tế chính trị của nước Pháp thuở ấy, còn việc cấm đạo chẳng qua là một cớ phụ thuộc, nó giúp cho nước Pháp một cái danh nghĩa để đánh nước ta mà thôi”. Sau khi bàn luận về những sự nhu nhược, yếu kém của triều đình, của vua quan nhà Nguyễn, Ngô Tất Tố khẳng định "tôi cho nước Nam bị mất là đáng, nếu không mất về tay người Pháp, cũng mất về tay người khác. Nói như thế, không phải tôi dám vu oan giá hoạ cho các cụ nhà mình ngày xưa. Sự thực là như vậy"( ).

Hơn sáu chục năm trước đây Ngô Tất Tố đã tố cáo âm mưu đen tối, trí trá, hòng xóa nhòa âm mưu xâm lược, đánh đồng cướp nước với chống xâm lược( ). Giá trị đó cho đến hôm nay vẫn không thay đổi, vì cách đây chưa lâu, có người hoặc nông nổi hay cố ý vẫn muốn khoả lẫn chính tà, bôi nhoè ranh giới, quấy lộn giữa xâm lăng với kháng chiến cứu nước. Trước thủ đoạn lừa bịp, mị dân của Brévié - Toàn quyền Đông Dương, Ngô Tất Tố vạch trần: "Đông Dương xưa nay vẫn có tiếng là một thuộc địa giàu có nhất của nước Pháp. Chẳng thế mà vẫn đứng đầu trong các việc đóng góp với mẫu quốc về quân phí, về quốc trái, về lạc quyên. Lại những con số về xuất cảng về nhập cảng hàng năm cộng nên con số kếch xù. Những quan lại công chức hàng năm biết bao nhiêu gia đình khi nheo nhóc kéo sang, chẳng bao lâu đã phởn phơ kéo về, hành lý kẽo kịt! Lại biết bao nhiêu những tài chủ, nghiệp chủ và điền chủ, cùng những danh công đại thương, lập nên những công ty vĩ đại, những cổ phần, những thương phiếu trên thị trường quốc tế có một địa vị cao quý, làm cho bao kẻ thèm muốn cái xứ bờ xôi ruộng mật này"( ).

Về hậu quả của sự cướp nước và quan hệ Pháp - Việt, Ngô Tất Tố sòng phẳng vạch rõ "Từ khi Đông Dương bắt đầu vào cuộc bảo hộ, nước Pháp tuy đã chinh phục tất cả dải đất Việt Nam, nhưng vẫn chưa chinh phục hẳn được lòng người Việt Nam. Chúng ta không nên kiêng kỵ mà không nói thẳng ngay rằng: cái lịch sử trong giai đoạn ấy còn có rất nhiều vết máu, dân Việt Nam vẫn chưa lúc nào dốc lòng theo phục. Trong cái cảm tình ở giữa người Nam và người Pháp, vẫn có một vết thương to”( ). Ngô Tất Tố phơi bày thủ đoạn nham hiểm định ép buộc dân ta sang sống tại Châu Phi, đánh đổi cho việc di vài bốn vạn dân Do Thái sang Đông Dương( ) Ngòi bút sắc sảo của Ngô Tất Tố đã nhanh chóng vạch trần mọi thủ đoạn của thực dân Pháp và bè lũ tay sai thường dùng những lời lẽ mị dân, những danh từ xảo trá để đánh lừa dư luận như khai hóa văn minh, bảo hộ thuộc địa, Pháp Việt đề huề, Pháp Việt hợp tác...

Trong thời kỳ vận động dân chủ, ngòi bút của Ngô Tất Tố dũng mạnh lên gấp bội, đã quật thẳng vào kẻ thù số một của dân tộc là bọn thực dân đầu sỏ. Thời kỳ đó có không ít người viết như Ngô Tất Tố, nhưng công kích đích danh, nhiều lần vào hàng loạt tên thực dân chóp bu, vào âm mưu thâm độc trong các chính sách của "mẫu quốc", vào lũ quan lại cỡ lớn, "to nhất trong đám quan lại", vào cả tổ chức "thay mặt dân gian dối", "loại đồ chơi xa xỉ" của bọn chúng, như Ngô Tất Tố đã làm là hiếm thấy. Nếu tính riêng người đã từng tu thân nơi sân Trình cửa Khổng mà làm được như vậy, có thể nói Ngô Tất Tố là trường hợp duy nhất. Điều đặc biệt, rất đáng được lưu ý là, toàn bộ nội dung công khai đấu tranh, trực diện công kích của Ngô Tất Tố tiến hành trong thời kỳ 1936 - 1939 đ• thể hiện hầu như đầy đủ tất cả các yêu cầu trong chương trình hành động của Mặt trận Thống nhất Nhân dân phản đế Đông Dương.

* Cụ Phan Bội Châu có nên nói chính trị nữa không

Nhân có tranh cãi về việc kỷ niệm cụ Phan Tây Hồ( ) nên theo âm lịch hay Dươơng lịch (1928), Ngô Tất Tố đề nghị “Một trong các cách giải quyết là lấy ý kiến của cụ Phan Sào Nam( ) làm chuẩn đích” bởi lẽ “ở nươớc ta ngày nay, ai là người đơược quốc dân kính phục và tín nhiệm hơn hết? Là cụ Sào Nam. Vì rằng từ nay về trơước, cái danh vọng và công đức của cụ, đã vang lừng rõ rệt ở bên tai trước mắt quốc dân. Thế thì ý kiến của cụ tức là ý kiến của phần đông quốc dân vậy”, “đã không có thể hiệp cả quốc hội mà giải quyết, thì ta nên lấy lời cụ làm bằng, đặng mà hoà đồng cái tư tưởng phái đảng”( ).

Năm 1937, thấy bài của Cụ Phan Bội Châu thuật lại câu chuyện yết kiến ông cựu Toàn quyền Varenne (trên báo Tiếng dân) và bài Kính dâơng cho quan Toàn quyền Brévié ký tên là Phan Sào Nam (trên số Xuân của Thời gian tuần báo), Ngô Tất Tố đã thẳng thắn lên tiếng can ngăn “cụ Phan không nên viết báo, và cũng không nên nói chuyện chính trị làm chi”. Ngô Tất Tố “cố can cụ Phan đừng nói đến chuyện chính trị” vì nhiều lẽ.

“Chắc ai cũng biết việc làm chính trị bây giờ, nhất là làm chính trị ở xứ này, phải hoạt động, phải xông pha, phải lăn lộn luôn luôn với dân chúng. Có thế mới hòng đi đơược tới đích.

Từ ngày cụ Phan bị bắt đưa vào dưỡng lão trong cảnh sông Hương núi Ngự, cụ đi một bước cũng bị dòm nom, người nào muốn ghé thăm cụ vài phút cũng bị ghi tên vào sổ. Cụ Phan có muốn truyền bá tư tưởng của mình, ngoài cách đăng báo không còn cách nào khác nữa. Nhưng viết báo có như ý được đâu!

Ngơười khác có thể đứng trong vòng pháp luật mà nói một cách dè dặt, vừa phải. Chứ cụ Phan thì không thế được.

Cái lịch sử oanh liệt, cái danh vọng lớn có quan hệ đến thể diện của dân tộc Việt Nam, nó không cho phép cụ đơược nói những câu dè dặt vừa phải nhơư ngươời khác vẫn nói.

Còn nếu cụ muốn nói đúng tư tưởng của cụ, thì quyết không có báo nào dám đăng. Vì đăng lên, báo sẽ đóng cửa.

Cụ đã vì dân chúng Việt Nam mà lênh đênh xiêu bạt mấy chục năm trời. Cụ đã đánh thức hàng mấy vạn ngươời trong lúc người ta đương còn mê muội. Cụ đã đem hết hạnh phúc trong đời mình mà hy sinh cho dân chúng Việt Nam.

Nhơư vậy đủ lắm rồi. Một ngươời như cụ mà muốn nói chính trị lại không được tự do, thà không thèm nói còn hơn.

Cũng xin các bạn đồng nghiệp nên để cụ Phan ngồi yên, không nên bắt một ông cụ bẩy mơươi tuổi đầu còn phải mất công làm quảng cáo cho báo"( ).

* Ngày giỗ tổ phải là ngày Quốc lễ

“Ngày mồng mười tháng ba, ngày ấy là ngày gì? Có lẽ cũng nhiều người nhớ. Đó là ngày giỗ cụ Hùng.

Nói thật mà nghe, câu chuyện cụ Hùng đối với thế kỷ hai mươi chẳng qua là chuyện thần thoại của đời thượng cổ mà thôi. Chỉ có thần thoại mới có hạng người con nhà Rồng và rể nhà Tiên. Chỉ có thần thoại mới có người đẻ trăm trứng nở đủ trăm trai.

Trong đời khoa học những chuyện thần thoại cố nhiên không thể khiến cho ai tin. Song cũng nên biết dân tộc Việt Nam ngày xưa không phải nguyên ở trên trời rơi xuống, hay từ dưới đất chui lên. Thế nào cũng phải có ông thuỷ tổ như các dân tộc khác.

Ông thuỷ tổ ấy, mấy nghìn năm nay tiền nhân dặn là cụ Hùng, chúng ta cứ việc tin là cụ Hùng, khoa học cũng không cãi nổi.

Cụ Hùng đã là thuỷ tổ chúng ta, tất nhiên cụ cũng phải chết. Cái ngày cụ chết mấy nghìn năm nay, tiền nhân vẫn bảo là ngày mồng mười tháng ba, chúng ta cứ tin ngày ấy là ngày giỗ cụ thuỷ tổ của dân tộc Việt Nam, khoa học cũng không thể cãi.

Theo tục An Nam, giỗ tổ là ngày hệ trọng, họ nhỏ thì chỉ cúng vái, họ to người ta còn tế lễ nữa.

Ngày giỗ cụ Hùng mấy triều đại này, nước nhà có tế, còn nhà tư thì không.

Phải, có trọng Tổ quốc mới biết làm hết bổn phận với tổ quốc. Muốn cho người Nam ai cũng biết trọng Tổ quốc, thiết tưởng ngày mồng 10 tháng ba là ngày kỷ niệm vua Hùng, phải nhận cho là ngày lễ như những ngày lễ khác, cho các người làm việc sở công, cũng như sở tư và các học sinh được nghỉ, thì không một người Nam nào còn có thể quên ngày đó được”( ).

* Về đức tự học

Bàn về việc học và giá trị của sách vở Ngô Tất Tố viết:

“Muốn làm một ngơơười đầy đủ đáng đơơược kính trọng phải biết cách làm ngơơười, tức là gồm cả đạo đức tri thức, nghĩa là những điều kiện làm cho con ngơơười khác với cầm thú.

Làm thế nào cho có những điều kiện ấy?

Học thầy chươơa đủ, học bạn chơơưa đủ, học nhữơng ông cô bà dì, ông chú bà bác cũng vẫn chơơưa đủ. Bởi vì bấy nhiêu ngươơời đó, đều đẻ sớm hơn mình chưa lâu, có biết hơn mình cũng chẳng hơn mấy nỗi. Muốn có những điều kiện để làm người, ngơơười ta còn phải tốn nhiều công phu: Bề cao còn phải thâu lơơượm từ đời thơượng cổ trở xuống, bề rộng còn phải góp nhặt từ ngươơời bốn phương trở về, như thế mới là sung túc.

Nhương người đời cổ đã chết, người bốn phương thì xa, dùng cách nào mà biết được những đạo đức tri thức của họ?

ấy đó, sách vở đáng quý ở đó. Người ta đẻ vào đời nay mà biết tư tưởng của người xưa, sống ở xứ này mà biết công việc của người xứ khác, chỉ nhờ có nó”( ).

* Luận về loại “học giả giả học”

“Hai chữ "học giả" thuở xưa tức là kẻ có học, gần đây nó mới thêm một nghĩa nữa: người ta dùng nó để gọi những người học vấn uyên bác, nhất là loại có làm việc khảo cứu, viết ra thành văn thành sách, công bố cho xã hội biết.

Với nghĩa sau đó ở bất kỳ nước nào, cái tên học giả thường được nhiều người coi trọng. Bởi vì đối với học giới, học giả chỉ là những người giàu về trí tuệ, cũng nhươ những nhà cự phú đối với tài giới vậy.

Nước ta từ ngày Hán học bị bỏ, nhà Nho thất thế, các học giả Nho chỉ đươợc gọi là thầy đồ hay "đồ gàn". Thình lình vài năm gần đây thiên hạ dở người, lại muốn ngó lại kho cổ học của phương Đông. Cái phong trào ấy đã mới đẻ ra một số học giả giả hiệu.

Bọn này họ học chữ Hán không thông, đọc sách chữ Hán chươa vỡ nghĩa, vì muốn xứng đáng với câu "học thông Âu á" họ đã cả gan thuê ngơười và nhờ ngươời dịch chữ Hán rồi ký tên mình và đăng lên báo và in thành sách.

Vậy thì đối với những ngơười này, hai chữ học giả lại thêm một nghĩa thứ ba, tức là không phải "học thật" vậy.

Tiếng ta, chữ "giả" có phép đặt riêng: thịt lợn nấu với giềng mẻ giống nhươ thịt cầy, gọi là giả cầy, nấu với tiết lợn giống nhươ thịt trâu gọi là giả trâu, nấu với hành răm giống nhươ thịt chim gọi là giả chim, nấu với đậu nghệ giống nhơư ba ba gọi là giả ba ba. Theo kiểu đó những ông học giả này cũng nên gọi là "giả học" để phân biệt với ngươời học thật”( ).

Tỏ ra hết sức khó chịu, khinh bỉ trước cảnh xã hội “có thật là có giả”, “tất cả đều là giả”, Ngô Tất Tố đã phanh phui và hết lời mỉa mai loại “học giả không học thật”, chỉ trích các biểu hiện “học giả vô học” diễn ra thường xuyên trên mọi lĩnh vực trong xã hội, từ nhà Nho “hương nguyện” đến anh dân quê “trọc phú”, từ “nhân viên nhà nước giả” đến tên quan lại mị dân “đạo đức giả”, từ “thày thuốc giả, thày lang giả,” đến “ăn mày giả, nhà sư giả, ni cô giả”, từ “yêu đương giả, hôn nhân giả” đến “phúng viếng giả”, “khóc thuê, khóc giả”...

* Bàn về tình dục, hôn nhân, gia đình với đời người và trong xã hội

Ngô Tất Tố chú trọng đến “cái lửa tình dục”, đến “đạo sinh” và quan tâm đặc biệt tới vị trí của hôn nhân, vai trò của gia đình trong đời sống xã hội.

“Nói ra thì trái tai các nhà đạo đức, người không phải Bụt, ai mà chẳng có tình dục? Cái “của tội” ấy vốn tự ông trời “nạp” vào trong lòng người ta từ lúc mới sinh, hình như có nó thì mới được là người. Người lớn bao nhiêu thì tình dục cũng lớn bấy nhiêu ở con trai cũng như ở con gái. Càng lớn thì nó càng nóng, đốt gan đốt ruột người ta như than như lửa. Lúc đó phải có chỗ tiết phát cho nó nguội đi, thì người ta mới được yên ổn. Lúc nó đã phát ra đường tà, thì còn chi là danh dự là thể diện của cha mẹ, có khi lại cướp cả công đẻ công nuôi của họ nữa"( ).

Nguồn gốc sinh lý của “đạo sinh” chính là sự duy trì nòi giống.“Trai lấy vợ, gái lấy chồng, chỉ là một sự rất thường, không phải lạ lùng gì cả! Việc vợ chồng của loài người đó cũng là việc cần có của “đức dâm dục”, cũng như đói phải ăn, khát phải uống...”( ).

Hôn giá - dựng vợ gả chồng chính là khởi sự dẫn đến sự hình thành gia đình. Kể từ sau hôn giá, gia đình là cái lò để đúc rèn tính hạnh, tính hạnh tốt có ích cho xã hội; tính hạnh không tốt, làm hại cho giống nòi.

Gia đình ươm trồng vô số hạt giống tư tưởng ở trong tim óc trẻ con. Sự sanh hoạt ở gia đình chính là cách dự bị để bước ra con đường sanh hoạt của xã hội. Tâm trí tánh tình tất cả phải rèn đúc ở gia đình, đó là thứ tự nhiên của loài người.

Nước nhà hay hay dở quan hệ đến vấn đề tu dưỡng của từng người; mà sự hay dở của từng người, lại quan hệ ở sự tu dưỡng trong lúc đầu xanh tuổi trẻ( ).

* Tư tưởng giai cấp trong hôn nhân càng nhạt - ấy là đã đến lúc khá

Ngô Tất Tố cho rằng cô giáo sư ở Nha Trang (Trung Kỳ) lấy chồng “sốp phơ” một cách đàng hoàng là một điều đáng mừng của xã hội Việt Nam mặc dầu “những người tai mắt” và bạn bè thì hết sức chê cười và khinh bỉ.

 “Xưa nay người trong xã hội Việt Nam vẫn chia làm hai hạng: Hạng quý phái hay trí thức và hạng bình dân hay lao động, giữa hai hạng đó vẫn có cái hố rất sâu.

Hôn nhân của hai hạng ấy, chỉ thấy con trai có học kết duyên với con gái vô học, ít học, chưa từng thấy người con gái học thức nào lại chịu làm vợ một người lao động. Cô giáo lấy chồng làm “sốp phơ” chứng tỏ rằng tư tưởng giai cấp của người mình đã giảm hơn trước nhiều lắm.

Ông có óc sáng, ông đi học, rồi đây làm việc ở bàn giấy; tôi có sức mạnh thì tôi đi cày. Đổi đi, tôi không thể vào bàn giấy mà cầm nổi cây viết của ông, ông cũng không thể ra ruộng mà vác nổi cái cày của tôi. Thế thì chúng ta bình đẳng với nhau, chớ ông lấy lẽ chi mà khinh miệt tôi?

Lấy vợ lấy chồng cũng vậy, lấy ai hợp với chí nguyện của mình là được, can chi phải đeo thêm bộ óc “giai cấp”. Hễ tư tưởng giai cấp bớt được chừng nào, tình đoàn thể của xã hội bền chặt từng nấy. Phàm các dân tộc, trình độ tiến hoá càng cao, thì tư tưởng giai cấp càng lạt. ấy là đã đến lúc khá( ).

* Làm sao mà không cho con gái hỏi chồng?

Từ đầu những năm ba mươi thế kỷ trước, Ngô Tất Tố đã nêu ra một vấn đề mà cho đến nay có thể vẫn là mới mẻ trong xã hội nước ta: Chế độ hôn giá hiện thời của phụ nữ có nên sửa đổi không? Con gái hỏi chồng có hại gì đến xã hội chăng?( ).

Theo Ngô Tất Tố “Con gái hỏi chồng cũng như con trai hỏi vợ. Người có quyền tự đến hỏi mình làm vợ thì mình cũng có quyền đi hỏi người làm chồng". Con gái đi hỏi chồng, không có gì trái với luân lý xã hội. ở đời chỉ có thói xấu như tranh vợ cướp chồng, lừa thầy phản bạn mới là trái luân lý, còn như con gái hỏi chồng không có gì ám muội, không thể bảo là trái luân lý.

Con trai hỏi vợ cũng vô số người bị từ chối, có phải là mất thể diện đâu, sao con gái hỏi chồng mà bị từ chối lại là mất thể diện được?

Khi quyền dạm hỏi riêng về đàn ông thì lúc cưới xin, bên gái vẫn được nhận tiền của bên trai. Bây giờ nếu con gái đi hỏi con trai thì số tiền đó ai chịu?

Cái tục cưới vợ phải trả tiền là tục rất mọi rợ. Đã bằng lòng làm bạn với nhau mà nỡ bóc lột nhau để làm giàu điều đó thật không tiện.

Nếu bỏ tục kết hôn bằng tiền tài, thì việc con gái hỏi chồng, về phương diện kinh tế cũng không có gì là ngăn trở. Về phần sinh lý, về phần ái tình cũng chẳng có hại gì cả. Thế tại sao xã hội không cho con gái hỏi chồng?( ).

* Ông Tơ Hồng nổi cáu, nhưng không về hưu mà vẫn cầm quyền

Nói tới hôn nhân, người đời thường nghĩ tới ông Tơ Hồng.

Lý lịch của ông Tơ Hồng kể cũng rất đơn giản. Người ta chỉ biết ông đó là một lão già ngồi dưới bóng trăng, tựa vào túi đựng tơ, xem sách, thế thôi.

Những sợi tơ trong cái túi đó có một oai lực rất thiêng liêng, nó đã buộc chân người con trai với chân người gái nào, dù mà hai bên xa nhau đến đâu, thù nhau thế nào, cũng phải thành vợ thành chồng. Dùng tơ trói chân trai gái thiên hạ nên mới gọi là ông Tơ Hồng. Ông cũng được gọi là ông Nguyệt Lão. Từ ngày "tự do luyến ái" lọt vào cái xứ này, trai gái yêu nhau theo tiếng gọi của trái tim, gái cũng như trai phần nhiều chưa "đặt" đã "ngồi", có người đồng thời "ngồi" luôn mấy chỗ là khác, thành ra lắm cặp không cần gì đến ông ấy mà vẫn thành vợ chồng, cho đến cha mẹ cũng không dự biết, huống chi ông Tơ Hồng. Người ta vẫn bảo ông cụ hết lộc cho nên mất quyền.

Trong xã hội rất nhiều cuộc lừa đảo tình duyên nên người ta tưởng rằng ông ta đã bị đánh đổ, không được cầm quyền nổi các cuộc nhân duyên.

 “Sự thực không thế. Những cuộc tự do luyến ái mà được thành công, chẳng qua cũng bởi ông Tơ Hồng tạm lờ đi đó thôi”. “ông Tơ Hồng vẫn chưa về hưu” đâu, ông ấy vẫn "cầm quyền độc đoán như thường", nhiều vụ lừa tình duyên đã bị ông “nổi cáu” xé dứt ra “trị tội” tới nơi.

* Khóc thật cho đất nươớc mất một thi tài

Thuở hàn vi bươớc chân vào làng báo, “cuộc giao tình” đã từng gắn bó Tống Lang Ngô Tất Tố với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.

Những người cho rằng “cuộc giao tình” đó chắc mãi mãi bền vững, sẽ khó hiểu khi thấy Ngô Tất Tố viết: “Từ ngày ở Nam ra Bắc, thấm thoắt đã đúng mơười năm, tôi chỉ gặp ông độ bốn, năm lần, mỗi lần chừng nửa giờ hay một giờ”( ) và kể với Vũ Bằng: “Riêng tôi, đối với cá nhân Tản Đà tôi ghét lắm, tôi không giao du”.

Tại sao như vậy? Lý do đơược phần nào hé mở: có thể là Ngô Tất Tố không bằng lòng khi Tản Đà xử sự với thân mẫu lúc Tản Đà phải đối mặt với tình cảnh éo le của thân mẫu chưa hết tang cha đã bỏ đi hành nghề “ca xướng”, và cũng có thể vốn là “một thi sĩ đại tài lại muốn chen vào ghế học giả”, Tản Đà có thời đã xoay ra cổ súy một chiều cho Tống Nho và chấn hơưng đạo Phật( )...

Thế nhương khi đươa tang Tản Đà, Ngô Tất Tố thành tâm thổ lộ với bạn hữu: “Con người văn nghệ của Tản Đà, tôi luôn luôn quý trọng, cho nên tôi đi đươa đám và tôi khóc thật, khóc cho đất nươớc mất một thi tài”, cho con ngơười mà Ngô Tất Tố từng xác nhận là “ngơười đứng đầu của thời đại này trong cái trang thi sĩ của cuốn Việt Nam văn học sử sau này”.

* Nạn đốt vàng mã

“Người ta không thể khoanh tay ngồi nhìn bọn không suy nghĩ cứ đem từng núi giấy một mà thiêu ra tro. Nhà đương cục phải ra tay bài trừ thói đó tức là trừ được một cái hại lớn cho người Nam, mà không hề phạm gì đến việc cúng vái là tục di truyền của người Nam cả.

Cái tục đốt vàng mã từ Trung Quốc truyền sang ta gây ra biết bao lãng phí của cải. Nếu đem vàng mã trong mấy ngày Tết mà chất đống thì cái đống ấy có thể lớn "bằng mấy hòn Tản Viên", nếu tính cả đến 25 tháng giêng số vàng mã bị thiêu đó "còn lấp được nửa sông Cái".

Từ Khổng giáo đến Phật giáo, Lão giáo, chẳng tôn giáo nào dạy ta phải đốt vàng mã. Nguyên nhân việc đốt vàng mã chỉ là thói giả dối do ở người Tàu gây ra.

Nước Tàu trong đời phong kiến, những nhà quý tộc, lúc sống họ yêu người nào, thích vật gì, thì lúc họ chết, người nhà phải đem người ấy, vật ấy mà chôn theo họ.

Nhưng chôn người sống thì thương, chôn của thì tiếc, người ta thay bằng người lụa, đồ lụa và sau cùng là người giấy, đồ giấy, thế là thành tục đốt vàng, đốt mã, người Tàu lại đem tục ấy truyền sang ta. Người mình không hiểu gốc ngọn nhắm mắt theo họ, mấy nghìn năm nay, đốt hại đã bao nhiêu của!"( ).

Ngày xưa, những giấy làm vàng làm mã ta phải mua của Tàu. Hễ mình đốt nhiều vàng mã thì họ càng chóng làm giàu. Thật ra chẳng có thần thánh tổ tiên nào thu nhận những của giả dối ấy.

Những người mê tín nói rằng đốt vàng mã để dâng nộp quỷ thần tiên tổ. Vàng để các ngài tiêu, mã để các ngài dùng.

Nói vậy chính là vu khống cho tiên tổ quỷ thần. Làm gì có việc giao dịch tiền tệ giữa dương gian với âm phủ, giả sử mình có cúng bằng vàng thực, bạc thật, quỷ thần tiên tổ cũng không thể tiêu, huống chi lại cúng vàng giấy bạc giấy và đốt ra tro.

Đồ mã cũng vậy, lấy giấy xanh đỏ dán vào nắm nan rồi đem đốt mà bảo cái này là thằng người, cái nọ là quần là áo, là chăn là màn thì phỏng tiên tổ quỷ thần dùng làm sao được.

Đốt vàng đốt mã để cúng tiên tổ quỷ thần còn mắc tội khinh mạn các ngài là khác. Cúng những của giả mà dám nói là của thật, thế là khinh mạn chứ gì?

Giả như ai nấy đều hiểu cái lẽ thông thường của đốt vàng m•, thì ở xứ này làm gì có nạn đốt vàng đốt mã?

* Về cách xưng hô và nạn kiêng tên

“Các thứ tiếng nói - nhất là những tiếng xương hô - ngoài ý nghĩa ra, đều có riêng một tinh thần.

Ví nhươ hai tiếng "mày tao". Hiện nay hầu hết thanh niên, đối với bè bạn đều dùng hai tiếng đó... Cách xơưng hô ấy chỉ để tỏ tình thân mật, tưởng nhươ nó không hề chi. Kỳ thực đối với các vị lão thành, nó là sự rất khó chịu.

Chắc có người cãi rằng: Tiếng "mày tao" của mình cũng giống nhươ tiếng "tu toi" của Tây và tiếng "ngộ nị" của Tàu. Với ng-ười Tàu có thể "ngộ nị", ngơười Tây có thể "tu toi" thì mình có thể gọi "mày tao" chứ gì?

Tiếng “mày tao” của ta không giống nhươ tiếng "tu toi" hay tiếng "ngộ nị". Là vì ngươời Tàu có thể gọi "ngộ nị" với cha mẹ anh chị, ngơười Tây cũng có "tu toi" với anh chị cha mẹ, nhơưng mình không thể “mày tao” với các bậc đó. Các cụ còn khuyên: người lớn cũng chừa dần thì vừa, kẻo nữa quen mồm rồi lúc bạn bè đầu râu tóc bạc cũng vẫn “mày tao” với nhau thì rất khó nghe và rồi con em mình tươởng tiếng “mày tao” là thân, nó sẽ “mày tao” với cả cha mẹ cho mà xem!”( ).

Lại còn cả chuyện “không cụ mà cũng chẳng lớn tí nào mà cứ đòi đươợc tôn là cụ lớn”. Trơước đây cụ lớn chỉ để chỉ vào các vị quan to tuổi già, còn thường chỉ để nói về vua chúa. Giờ, mấy tiếng đó đã thành cái danh từ lộn bậy, ngươời ta cứ dùng bừa đi. Nhiều ông không cụ mà cũng chẳng lớn tý nào, thế mà cần đươợc tôn là cụ lớn luôn luôn. Tiếng ngài lại càng phổ thông hơn nữa, hễ khi lạ nói chuyện với nhau, ngươời ta thươờng gọi nhau là ngài. Tức cươời hơn nữa, có ông mắc nghiện tiếng ngài vì ông ấy thích đươợc gọi là cụ lớn - sự thực ông ấy chỉ là cụ bé - nên mới tôn sẵn ngươời ta là ngài để “chực” ngươời ta thêm vào cho mình một tiếng lớn nữa ở sau tiếng cụ. Thì ra ông ta mắc nghiện hai chữ "cụ lớn"( ).

Tiếp đến chuyện “me xừ và tiên sinh”:

 “Vài chục năm nay thiên hạ nước ta đã mắc cái bệnh nghiện tiếng ngoại quốc. Mỗi khi hội họp từ hai ba ngơười trở lên, tuy đều là con Rồng nói với cháu Tiên, ngơười ta cũng cứ dùng tiếng nươớc ngoài. Lố bịch nhất là khi những ông Pháp học nói tiếng Pháp cho ông Hán học nghe, và ông Hán học nói chữ Hán cho ông Pháp học nghe. Đáng ghét là những kẻ mơượn cả những tiếng rất thường như tiếng "me-xừ" hay tiếng "tiên sinh". ở chữ Pháp hay chữ Hán cố nhiên các chữ đó không có nghĩa khinh bỉ, nhương dùng xen vào tiếng An Nam, thì nó có ý khôi hài chế nhạo. Ông nào không tin lời tôi là phải, xin thử dùng những tiếng đó vào trong văn khấn. Miệng ta hãy khấn "me xừ Thổ Công", "tiên sinh Táo Quân" xem rằng tai ta có nghe đươợc không?”( ).

Rồi lại chuyện tự “xương bà, xương cô” trươớc thiên hạ:

“Từ ngày có cuộc bảo hộ chính phủ Pháp tải sang cho ta hai chữ Madam và Mademoiselle trong thươ và nhất là trong báo, các cô và nhất là các bà thơường vẫn dùng nó cho mình. Nếu là cô Mộng Ngọc thì tự ký là Mademoiselle Mộng Ngọc, bà Nguyễn Đức Nhuận thì tự ký là Madam Nguyễn Đức Nhuận.

Cũng vì hai chữ đó là tiếng Pháp, ta nghe thấy lần đầu, không dịch ra tiếng ta, thật là khó chịu quá"( ).

“ở xã hội mình còn có hạng đại rởm nữa có thể bắt gặp bất kỳ ở một chỗ nào. Nói đến bộ ghế kiểu mới nhất định họ phải gọi là “bộ sà lông”, nói đến cái chạn kiểu mới nhất định họ phải gọi là "gác măng dê". Viết thươ cho ngươời đàn ông họ không viết là ông hay anh, nhất định phải viết bằng chữ Monsieur; viết thươ cho ngơười đàn bà họ viết là Madam. Ông nguyễn Văn Kèo có hiệu là Cột, họ không viết "tức Cột", cứ viết "dit Cột"; bà Nguyễn Văn Rô nguyên là Lê Thị Riếc họ phải viết "née Lê Thị Riếc". Một hiệu thợ cạo ở phố An Nam, chuyên cạo cho ngơười An Nam, quanh năm không có người ngoại quốc nào nhòm ngó vào của nhương cái biển của họ cũng không viết chữ "hiệu cạo" hay "hiệu hớt tóc" phải viết chữ "coiffeur"( ).

Trong xã hội còn có nạn “kiêng tên” nữa.

“Có lẽ chỉ nơước Tàu và nươớc ta có tục kiêng tên, ta thì bắt chước của Tàu. Ngày xươa, khi còn thời đại khoa cử, tục đó rất thịnh hành. Bây giờ nó vẫn chươa nhạt, vẫn thấy nói “thành” làm “thiềng”, nói “định” làm “điệng” không biết kiêng tên ai.

Kỳ thực tục đó là một tai nạn. Thí dụ: Một ông họ Hoàng, nhương Trung và Nam kỳ thươờng đọc chữ đó là Huỳnh, còn người Bắc vẫn đọc đúng là Hoàng. Nếu gửi bươu phiếu cho ông họ Hoàng mà không đề là Huỳnh... mỗ, thì ông họ Hoàng nhất định là không lĩnh đươợc. Cái tên đặt ra cốt để mà gọi. Có tên không gọi đúng thì còn đặt ra làm gì?"( ).

Trên đây là một số cảm thụ và chiêm nghiệm trường đời của Ngô Tất Tố. Bạn đọc có thể khai thác những cảm nghĩ và thông điệp trên nhiều lĩnh vực khác như về dân quê và người thị thành, về giáo dục và thực nghiệp, về hiện tình tư tưởng và tâm lý x• hội đương thời, về việc làng việc nước, về các tập quán và thói quen của cộng đồng cư dân... ở nước ta trước đây khi đi sâu tìm hiểu Tổng thư mục Ngô Tất Tố. Đồng thời, bạn đọc cũng thấy trên một số mặt, tác giả tỏ ra rất khắt khe, không công nhận như về thơ mới, về thay đổi thời trang của giới nữ...

Nghề báo, nghiệp văn đầy nỗi nhọc nhằn, đậm đà tình bằng hữu

Cuộc đời làm báo viết văn đầy khó khăn, thiếu thốn! Làm báo là "sống với cái kiếp viết mướn ở báo nó lênh đênh như cánh bèo trên mặt nước", sống trong cảnh "nghèo dúm rau dúm bếp làm với nhau”. Ăn thì “ăn các món ngơười ta vẫn bán rao ngoài đường”, món ăn hợp khẩu vị của Ngô Tất Tố chỉ là đậu phụ nướng chấm với tương nhà. Ngủ thì “đêm đêm phảy cái sàn gác nhà báo, trải chiếc chiếu cói mà ngủ với nhau”( ). Thế mà “chỉ với tờ giấy và cây bút, ngày ngày bên bàn giấy, chiếc ngòi sắt vật chọi với cái nung nấu của trời hè, nửa trang giấy, cạn một chén nươớc, một giọt mực hoà một giọt bồ hôi, trời nắng cứ nắng, mình viết cứ viết”( ), “mỗi lần viết “ném bùn sang ao” như tôi, hà tiện cũng một xu giấy nháp, cái hạng giấy viết kêu sồn sột, ấy là chưa kể giấy in”. Đời sống vật chất thiếu thốn, đời sống tinh thần của người làm báo chân chính cũng chịu bao nhiêu thằng thúc, trói buộc. Viết phê phán các quan Tây, quan ta thì không thoát khỏi “cái kéo rất sắc của bà kiểm duyệt rất đáo để, nằm ngay tại sở mật thám”, “cùng mấy ông lớn của làng quan, bực tức người bên làng báo bèn răn đe độc giả đừng đọc, hoặc bảo đại lý đừng bán, có ông còn đến tận nhà dây thép ở trong hạt mình mà biên tên những bạn mua năm của Tương lai”( ).

Thế nhưng không bao giờ nhụt khí, Ngô Tất Tố vẫn một lòng quyết liệt theo nghề cầm bút cho đến cùng với biết bao vui buồn lẫn lộn. Bản thân tác giả cũng từng bị lợi dụng, thậm chí có kẻ mạo nhận là Ngô Tất Tố, đi về tỉnh Ninh Bình làm điều bất chính đã bị phát giác (1937).

Nhà xuất bản Mai Lĩnh từng “đặt hàng” và “chịu mọi phí tổn” cho một số nhà văn đi “thực tế” để viết về chủ đề thuốc phiện. Ngô Tất Tố có vài lần cùng Vũ Trọng Phụng và chủ nhân Nhà Mai Lĩnh... đến tận các “ổ bàn đèn”, gặp gỡ các “đệ tử của ả phù dung”, nhưng Ngô Tất Tố nhất định không hút, cũng từ chối viết luôn và nói: “Thuốc phiện chính là ta hại ta, nhìn đã thấy đau lòng”( ). Giữa đời thường, Ngô Tất Tố làm bạn cùng thuốc lào với “bộ điếu bát” thân quen, bộ điếu bát đã chứng kiến tác giả nghênh tiếp đông đủ các bạn văn và đồng nghiệp làm báo.

Những ngày chuyên làm ảnh tại Trụ sở Hội Văn nghệ ở Xóm Chòi trên Việt Bắc, cụ Trần Văn Lưu kể lại, trong bếp ăn tập thể cụ Tố là ngươời cao tuổi nhất, đũa bát cho mọi ngươời thế nào cũng xong, nhương nhà bếp và đám trẻ luôn dành cho cụ Tố chiếc bát ăn cơm trông lành lặn hơn. Sau những bữa cơm chiều đạm bạc, giữa khi chuyện vãn, cụ Tố hay ngâm nga hai câu thơ: “Bạn cười ta chỉ mơ mòng( ), Hỏi đời ai kẻ ngoài vòng đam mê?”.

Xin được giới thiệu một số hình ảnh cảm mến Ngô Tất Tố giữa đời thường, được lưu giữ từ bạn hữu và đồng nghiệp, trong các lời bình về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả.

Vũ Trọng Phụng

 “Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội..., một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng có. Ngô Tất Tố là một nhà báo về phái Nho học, và là một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà Nho. Làng báo Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ cũng như độc giả, hẳn không ai mà lại không biết danh tiếng... người đã viết nhiều bài đại luận, khảo cứu, bút chiến, phê bình, nhiều truyện lịch sử rất có giá trị, trong nhiều tuần báo và tạp chí, cả Nam lẫn Bắc”

(Lời giới thiệu sách Tắt đèn, xuất bản lần thứ nhất

 Nhà sách Mai Lĩnh - 1939)

Nguyên Hồng

 “Nhân dân Bắc Bộ đã nói nhiều cái học lỗi lạc của Ông xứ Tố. Anh em làng văn làng báo cũ cũng thường gọi Ngô Tất Tố bằng cái tên ấy nhưng đổi một chữ khác thân yêu hơn: Bác xứ Tố... Tài học và thông minh của mình, Ngô Tất Tố thấy không dùng làm được việc gì hết với thực dân, với bọn quan lại..., Ngô Tất Tố đã quả quyết đi hẳn sang một con đường sống khác. Chiếc bút lông thay bằng bút sắt. Với ngòi bút, Ngô Tất Tố kiếm sống và chống lại những cái ngang trái bất công của xã hội... Cái mạnh, cái sắc của Ngô Tất Tố ở chỗ dám nhìn thẳng vào sự thật ngang ngược bất công, đi sâu vào những khía cạnh đen tối, sai trái của kẻ thù...”

(Tạp chí Văn nghệ, số 54, Tháng 8/1954)

Nguyễn Tuân

 

“Này Bác Tố, thiên hạ bảo Bác không phải là một nhà văn tầm thường, cái điều ấy đúng thôi, Bác không nên nhún nhường, cái nhún nhường này chỉ là cái nhún nhường của một người chết - Bác cứ coi như Bác vẫn đang sống với bọn tôi mà giơ tay ra mà hiên ngang nhận lấy vinh dự ấy...”

(Tạp chí Văn nghệ, số 6, Tháng 6/1960).

“Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn còn phải sống lâu, thọ hơn cả một số văn gia đương kim hôm nay... Chị Dậu, đích là tác giả Ngô Tất Tố hoá thân ra mà thôi. Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn. Nếu ví toàn truyện Tắt đèn là một khóm cây, thì chị Dậu là cả gốc cả ngọn cả cành, và chính chị Dậu đã nổi gió lên mà rung cho cả cái cây dạ hương Tắt đèn đó lên”.

(Lời giới thiệu sách Tắt đèn - Viện Văn học Nxb Văn hóa, 1962)

“Cho đến khi toàn quốc đánh Pháp, đơược tin Ngô Tất Tố đi kháng chiến, tôi thấy vui và tin quá. ở rừng căn cứ, mỗi lần có dịp “hạ sơn” về trung du và vùng Yên Thế để đón bác Tố “lên” họp, lại càng thấy vui. Nhìn Ngô Tất Tố áo vải đeo chéo cái chăn bông cũng nhuộm nâu chống gậy qua Đèo Khế, có anh bạn đi sau đã bỏ nhỏ vào tai tôi, giọng anh nghịch “Trông kém gì năm đói, chạy đói vùng xuôi để lên khất thực ở thơượng du”

(Theo Nguyễn Tuân - Báo Văn nghệ - 1982).

Nguyễn Đức Bính

“Người ta nói nhiều về Ngô Tất Tố, nhà văn, nhà tiểu thuyết, người ta chưa nói mấy về Ngô Tất Tố, nhà báo. Phải Ngô Tất Tố trước hết là một nhà báo, một nhà báo cả những khi viết tiểu thuyết, một nhà báo có biệt tài. Ngô Tất Tố trước hết là một nhà viết tạp văn... Tạp văn là một lối văn đặc biệt. Nếu xương thịt của nó là sự việc hàng ngày, thì tim óc của nó là tính khí của nhà văn, xu hướng của thời đại. Nhẹ nhàng mà vẫn thâm thuý, thẳng thắn mà vẫn kín đáo, cứng rắn mà không làm mất duyên dáng, nghiêm nghị mà không làm mất thân mật...”

(Tạp chí Văn nghệ, số 61, Tháng 6/1962)

Vũ Bằng

  “Ngô Tất Tố quả là một nhà văn từ trong dân chúng đi ra, sống với dân chúng và phục vụ trung thành dân chúng thực... Ngô Tất Tố một huấn luyện viên của tôi trong nghề làm báo, Ngô Tất Tố hơn là một người bạn, mà đáng là một trong những bậc thầy tôi”.

(Tạp chí Văn học, Sài Gòn, số 174, ngày 18/10/1973)

Kim Lân

 “Ngô Tất Tố đúng là một trí thức đặc biệt. Ông có một vốn hiểu biết sâu rộng đến ngạc nhiên. Những hiểu biết của ông về nông thôn khiến chúng tôi hết sức thèm muốn. Ông hiểu từ tổ chức x• hội nông thôn, từ lý trưởng kỳ hào... đến các hội đồng, nó làm gì, mánh lới nó ra sao. Ông am tường vấn đề đạo lý, lễ giáo của nông dân từ bao nhiêu đời”... “Còn một điều này tôi cũng nhớ rất kỹ là ở Bác Tố cái sự yêu, sự ghét hết sức dứt khoát, minh bạch. Bác quý anh em lắm”.

(Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, 1997).

Hoàng Trung Thông

 “Ông cụ già ấy so với tuổi tôi hồi bấy giờ thì còn trẻ hơn nhiều nhưng tôi vẫn gọi cụ là bác - “bác Tố của chúng ta đấy”. Nhưng điều bất ngờ đối với tôi là bác Tố cũng gọi lại tôi là bác mà lúc đó tôi mới hai mươi tư, hai mươi lăm tuổi, một sự kính trọng lẫn nhau giữa trẻ và già rất “Bắc”... “Ngô Tất Tố, con người này tưởng như một người khoa bảng, thật ra ông chỉ đỗ Đầu Xứ mà có một tư tưởng tân tiến, một tâm hồn mới mẻ... Đọc những tiểu phẩm của Ngô Tất Tố mới thấy rằng không thua gì tạp văn của Lỗ Tấn, mà có những tiểu phẩm còn trội hơn của Lỗ Tấn nữa là vì Lỗ Tấn người được học trường đại học, người được biết bốn thứ tiếng, còn Bác Tố của tôi, hỡi ôi chỉ có biết chữ Hán, thế mà sao những tiểu phẩm của Bác ấy lại uyên bác đến như thế, thâm thuý đến như thế, thông minh đến như thế”.

(Tạp chí Văn học, số 1, 1985)

Xã hội ghi công và Nhà văn hoá trở về Quê Cói thân yêu

Sau một thập niên tạm yên nghỉ trên Đồi Văn nghệ - Yên Thế, năm 1963, Cụ Đầu xứ đã trở về quê Cói Lộc Hà. Suốt 33 năm cùng hai người con nằm chung trong một Nghĩa trang Liệt sĩ, “người ắt phải bắt tay vào công việc”, “con người hành động”( ) Ngô Tất Tố, đã về an nghỉ mãi mãi ngay gần nền đất ngôi nhà trước đây Cụ sinh sống, nơi trước đây đã ra đời kiệt tác Tắt đèn( ).

Với hơn 30 bút danh, trên hơn 20 chuyên mục của gần 30 tờ báo tạp chí trong Nam ngoài Bắc và ở Việt Bắc, Ngô Tất Tố đã để lại hơn 1500 tác phẩm đăng báo.

Cho tới nay đã có hơn 300 công trình nghiên cứu, các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân..., các sách báo, bài viết... của các nhà văn, nhà báo, những người quen biết lớp trước, của các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà giáo và bạn đọc lớp sau đã khảo cứu, giới thiệu... về thân thế, sự nghiệp của Ngô Tất Tố.

Sự nghiệp sáng tác của Ngô Tất Tố đã được 7 nhà xuất bản trước năm 1945, gần 30 nhà xuất bản và các doanh nghiệp làm sách trên cả nươớc, kể cả ở miền Nam trơước năm 1975 và nước ngoài (Nga, Trung Quốc, Mỹ, Hungari, Lào...) đã xuất bản, tái bản hàng trăm lần.

Ngô Tất Tố đơược truy tặng Giải thươởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (Đợt I) năm 1996.

Từ năm 1995, Giải thươởng báo chí hàng năm mang tên Ngô Tất Tố đã tổ chức thươờng xuyên tại Thủ đô Hà Nội. Đã hai lần, trong các năm 2003 và 2005, Thủ đô Hà Nội đã triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học về Di sản báo chí của Ngô Tất Tố.

Giải thưởng báo chí Ngô Tất Tố được tổ chức thường xuyên hàng năm tại Hà Nội từ 1996 tới nay

Hội nghị nghiệm thu Đề tài nghiên cứu khoa học về Di sản báo chí của Ngô Tất Tố tại Hà Nội (2006)

Bảy tỉnh thành trên cả nước đã có đường, phố mang tên Ngô Tất Tố là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, Vinh, Nha Trang, Bắc Ninh, Nam Định... Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có trường học Ngô Tất Tố, Thành phố Hồ Chí Minh có khu chung cư lớn mang tên Ngô Tất Tố.

Nhà báo - nhà văn - nhà văn hoá Ngô Tất Tố là một trong những cây bút viết văn làm báo tài năng của thế kỷ XX ở nước ta. 


CÁC TIN KHÁC
1 - 8 of 936
First | Prev. | 1 2 3 4 5 | Next | Last All